Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2007


Tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008:
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008
06/09/2010 11:27:00

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007

VÀ NHIỆM VỤ NĂM 2008

________

 

Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày

tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khoá XII

Ngày 22 tháng 10 năm 2007

 

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và các vị khách,

Thưa đồng chí, đồng bào,

Để chuẩn bị cho kỳ họp này của Quốc hội, Chính phủ đã gửi tới các vị đại biểu Quốc hội các báo cáo chi tiết về tình hình thực hiên nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 cùng 21 báo cáo chuyên đề khác.

Hôm nay, thay mặt Chính phủ, tôi xin trân trọng báo cáo trước Quốc hội và đồng bào cả nước những nét chính về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta trong năm 2007 và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cho năm 2008.

  

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007

Căn cứ Nghị quyết kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa XI, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã có Nghị quyết về các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007[1]. Đến nay, nhờ sự nỗ lực phấn đấu, tranh thủ thời cơ và vượt qua khó khăn thách thức của cả hệ thống chính trị, của toàn dân và cộng đồng các doanh nghiệp, đất nước ta đã đạt được những thành tựu và tiến bộ mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trên cơ sở tình hình 9 tháng đầu năm và dự báo khả năng phát triển của quý IV, có thể đánh giá rằng, các mục tiêu và nhiệm vụ do Quốc hội đề ra cho năm 2007 đã và đang được thực hiện khá thuận lợi, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu cả về kinh tế, xã hội và môi trường đều đạt và vượt kế hoạch đề ra[2].

Những kết quả chủ yếu

1. Trong năm 2007, nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (8,5%), tạo khả năng hoàn thành nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 ngay trong năm 2008[3]. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực[4]. Ngành nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn vươn lên đạt được kế hoạch. Công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và tăng thêm tỷ trọng công nghiệp chế biến. Lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của GDP. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng khá cao (20,5%) trong năm đầu gia nhập WTO.

Các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản được bảo đảm. Tổng thu ngân sách nhà nước vượt kế hoạch đề ra, tỷ lệ huy động từ thuế và phí vào ngân sách nhà nước đạt 23,4% GDP. Cán cân thanh toán quốc tế có thặng dư khá, dự trữ ngoại tệ tăng từ gần 12 tuần nhập khẩu vào cuối năm 2006 lên gần 20 tuần nhập khẩu vào cuối năm 2007, đáp ứng được các nhu cầu về ngoại tệ và bình ổn thị trường ngoại hối. Nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia tiếp tục được duy trì ở mức an toàn[5].

Đầu tư phát triển của nền kinh tế tăng mạnh, nhiều công trình hạ tầng và cơ sở sản xuất được đưa vào sử dụng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển đất nước trong các năm tiếp theo. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 ước đạt khoảng 464,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6% GDP, tăng 16,4% so với năm 2006; trong đó, nguồn vốn của Nhà nước tăng 17,5%, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tăng 12%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 17,1%, vốn đầu tư dân doanh tăng 19,5%. Thị trường chứng khoán phát triển khá nhanh, đang trở thành một kênh huy động vốn đầu tư dài hạn quan trọng trong nền kinh tế. Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo đảm cho thị trường tài chính[6] phát triển nhanh và bền vững.

2. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có những chuyển biến tiến bộ. Các chỉ tiêu về tuyển sinh, phổ cập giáo dục, tạo việc làm, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, cung cấp nước sạch đều đạt và vượt kế hoạch. Kết quả bước đầu của cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục đã được xã hội đồng tình. Hoạt động dạy nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được chú trọng hơn. Các chợ công nghệ - thiết bị và sàn giao dịch công nghệ được tổ chức ở một số nơi, thúc đẩy hình thành thị trường khoa học và công nghệ. Các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản và thông tin đối ngoại có bước tiến bộ. Đã xử lý quyết liệt để ngăn chặn dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh. Tăng cường kiểm soát thị trường dược và vệ sinh, an toàn thực phẩm. Thể thao Việt Nam đang hướng tới chuyên nghiệp, có tiến bộ và đạt được một số thành tích cao. Các cơ quan chức năng, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội và đồng bào ta đã có nhiều nỗ lực, với tinh thần trách nhiệm cao, giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau trong phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai.

Công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục đạt được kết quả nổi bật. Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn và các chính sách trợ giúp trực tiếp về sản xuất và đời sống cho người nghèo được đẩy mạnh. Nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội được tăng thêm để triển khai nhiều chính sách tín dụng mới. Đến nay, có gần 4 triệu hộ nghèo và 1,7 triệu người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn thuộc 10 chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 18% năm 2006 xuống còn 14,7%[7] năm 2007.

3. Công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính tại những lĩnh vực có nhiều bức xúc trong xã hội như: đăng ký kinh doanh, chứng nhận đầu tư, thủ tục hải quan, thu thuế, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp; công chứng, chứng thực, hộ tịch hộ khẩu, chứng minh nhân dân, cấp giấy quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, đăng ký phương tiện giao thông... đã có những bước tiến mới, được nhân dân và doanh nghiệp đồng tình. Công tác rà soát và xây dựng thể chế được chú trọng hơn. Việc phân cấp cho cấp dưới được đẩy mạnh. Cơ chế "một cửa" được mở rộng thực hiện ở nhiều nơi. Bộ máy Chính phủ đã được sắp xếp lại theo đúng chủ trương giảm đầu mối, hình thành bộ quản lý đa ngành, nâng cao trách nhiệm, hiệu lực hiệu quả và bảo đảm liên tục nhiệm vụ.

4. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được quan tâm và chỉ đạo kiên quyết. Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Các Bộ, ngành và địa phương đều có chương trình, kế hoạch hành động phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở Trung ương đã đi vào hoạt động, tập trung chỉ đạo ban hành hệ thống văn bản để thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đã đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra và điều tra, truy tố, xét xử các vụ tham nhũng theo đúng quy định của pháp luật [8].

5. Chính trị, xã hội tiếp tục ổn định. Nhân dân tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, yên tâm phấn khởi đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Quốc phòng và an ninh được giữ vững.

6. Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng, vị thế quốc tế của nước ta không ngừng được nâng cao. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Chính phủ đã triển khai chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới.

Ngày 16 tháng 10 năm 2007, Việt Nam đã được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 với số phiếu tín nhiệm cao. Sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của đất nước ta, khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước ta, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là vinh dự lớn, thể hiện sự tin cậy của cộng đồng quốc tế; đồng thời đặt cho nước ta nhiệm vụ quan trọng là trực tiếp đóng góp cho hoà bình và an ninh của toàn thế giới.

Những yếu kém của nền kinh tế và những khuyết điểm trong công tác điều hành

Một là, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế tuy đã có bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả đầu tư còn kém, chi phí sản xuất còn cao; sản xuất và cung ứng điện chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển; công nghiệp gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp phụ trợ chưa có tiến bộ rõ nét. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm.

Hai là, một số cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc. Bội chi ngân sách nhà nước tuy vẫn trong giới hạn cho phép, nhưng tỷ lệ này còn khá cao và đã kéo dài trong nhiều năm, chưa có chiều hướng cải thiện. Tình trạng trốn thuế, lậu thuế, chi tiêu ngân sách sai quy định chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Một số khoản chi chưa bố trí đủ nguồn như: bù lỗ kinh doanh dầu [9] và cấp vốn điều lệ cho một số tổ chức tài chính nhà nước phải chuyển sang ngân sách các năm sau. Công tác phân tích, dự báo và giám sát hoạt động của thị trường tài chính chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế thị trường.

Kim ngạch xuất khẩu tuy vượt kế hoạch đề ra nhưng mức tăng thấp hơn năm 2006, kim ngạch nhập khẩu tăng cao hơn so với năm 2006, nhập siêu ước bằng 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu[10]. Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và vật tư nguyên liệu; mặt khác, giá thế giới tăng cao cũng góp phần làm tăng kim ngạch nhập khẩu (khoảng 16%). Về chủ quan, chúng ta cũng chưa chủ động thực hiện các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước và giảm nhập siêu.

Giá tiêu dùng 9 tháng đầu 2007 tăng 7,32%[11]. Chính phủ đã và đang áp dụng các biện pháp thích hợp để giảm lượng tiền trong lưu thông, tăng cung ứng hàng và nhiều biện pháp khác để kiềm chế tốc độ tăng giá, phấn đấu giữ mức tăng giá tiêu dùng cả năm 2007 thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP.

Ba là, khả năng hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế nước ta tuy đã có bước được cải thiện nhưng vẫn chưa tận dụng được thật tốt cơ hội mới để huy động và sử dụng có hiệu quả cao các nguồn vốn đầu tư. Đầu tư của khu vực dân doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoài có thể còn thu hút được nhiều hơn; vốn ODA giải ngân vẫn còn chậm; tiến độ triển khai xây dựng và giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và Công trái giáo dục thực hiện chậm so với cùng kỳ các năm trước[12]. Nguyên nhân của hạn chế này là môi trường đầu tư và kinh doanh còn nhiều vướng mắc, bất cập, nhất là về thể chế kinh tế, thủ tục hành chính, công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng.

Bốn là, nhiều vấn đề xã hội bức xúc khắc phục còn chậm. Công tác đào tạo nhân lực chưa đáp ứng kịp nhu cầu của xã hội cả về số lượng và chất lượng; chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong đào tạo nghề cho người lao động, nhất là trong thanh niên. Công tác quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm, quản lý văcxin, sinh phẩm, chất thải bệnh viện... còn nhiều yếu kém. Chưa tạo được nguồn vốn để đầu tư nhiều hơn cho ngành y tế, cho các bệnh viện tuyến huyện để chăm sóc sức khoẻ của đồng bào sống ở nông thôn và giảm áp lực quá tải đối với các bệnh viện tuyến trên. Chưa chủ động làm tốt công tác vận động sinh đẻ có kế hoạch trong năm "Con lợn vàng" nên có thể không hoàn thành kế hoạch giảm tỷ lệ sinh.

Công tác bảo đảm an toàn lao động còn nhiều yếu kém. Vụ tai nạn nghiêm trọng tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, trước hết là sự yếu kém của công tác quản lý Nhà nước trong xây dựng công trình và bảo đảm an toàn lao động. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiêm túc nhận trách nhiệm và đã lập Ủy ban Nhà nước để điều tra làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm trực tiếp và sẽ xử lý nghiêm minh các sai phạm; đồng thời, qua điều tra, sẽ làm rõ những yếu kém để hoàn thiện thể chế, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về các lĩnh vực này.

Tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đã gây thiệt hại lớn về người, tài sản, làm hạn chế sự phát triển và đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Chính phủ đã thảo luận đánh giá thực trạng tình hình, nguyên nhân và đã ra Nghị quyết chuyên đề[13] với nhiều giải pháp cơ bản và cấp bách để kiềm chế và đẩy lùi tai nạn giao thông. Các ngành, các địa phương, các cơ quan chức năng đã và đang tích cực triển khai thực hiện nhưng chưa có nhiều chuyển biến.

Đời sống của một bộ phận nông dân, đặc biệt là đồng bào ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng biên giới, hải đảo còn rất nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 4 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước. Mức vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước còn thấp[14] và thời gian vay còn ngắn, cùng với nhiều hạn chế yếu kém khác nên người nghèo chưa thoát nghèo một cách bền vững.

Những vướng mắc, yếu kém trong quyết định thu hồi đất, đền bù, tái định cư không những đã làm chậm trễ, mất cơ hội của các nhà đầu tư mà còn làm cho đời sống một bộ phận dân cư trong diện thu hồi đất gặp nhiều khó khăn và là nguyên nhân chính trong nhiều vụ khiếu kiện kéo dài.

Năm là, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém. Kinh tế tăng trưởng cùng với quá trình đô thị hóa và dân số tăng nhanh đã làm gia tăng ô nhiễm và gây áp lực lớn đối với môi trường sống. Nhiều hệ thống sông, như sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải, sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy… bị ô nhiễm nghiêm trọng; nhiều khu công nghiệp xây dựng trước đây với công nghệ và máy móc lạc hậu, nhiều vùng khai thác khoáng sản, làng nghề thủ công và khu đô thị bị ô nhiễm nặng, đang ở mức báo động đỏ. Nhiều nơi rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ vẫn tiếp tục bị chặt phá.

Sáu là, công tác phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã có những kết quả bước đầu nhưng vẫn còn nghiêm trọng. Nhiều cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chưa coi đây là nhiệm vụ công tác trọng tâm, thường xuyên của cơ quan, đơn vị mình; chưa tập trung chỉ đạo và chưa có kế hoạch hành động thiết thực cụ thể. Hầu hết các vụ việc tham nhũng là do các cơ quan chức năng và nhân dân phát hiện. Tiến độ điều tra, xử lý một số vụ án tham nhũng vẫn còn chậm.

Nhìn chung lại, trong năm 2007, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và tiến bộ mới trên nhiều lĩnh vực; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tiềm lực quốc gia được tăng cường; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; hiệu lực, hiệu quả và kinh nghiệm điều hành của Chính phủ và các cấp chính quyền được tăng thêm; sự năng động, sáng tạo và những đóng góp có ý nghĩa quyết định của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã tạo nên thế và lực mới cho công cuộc phát triển đất nước; những kết quả đạt được đã tạo ra khả năng thực tế để phấn đấu hoàn thành sớm kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 mà Đại hội lần thứ X của Đảng và Quốc hội đã đề ra.

Mặt khác, những yếu kém và khuyết điểm trong năm 2007 cho thấy sự phát triển của đất nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa tranh thủ được tốt nhất những cơ hội và thuận lợi mới; chưa bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề văn hoá, xã hội và môi trường; tốc độ tăng trưởng cao chưa đi liền với cải thiện nhanh về chất lượng; môi trường đầu tư và kinh doanh, nhất là thể chế kinh tế, thủ tục hành chính, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và nguồn nhân lực đang là những khâu còn nhiều yếu kém, bất cập làm hạn chế sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

 

Phần thứ hai

NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP LỚN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ -  XÃ HỘI NĂM 2008

I. NHIỆM VỤ

Năm 2008 có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, là năm bản lề của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực qua 20 năm đổi mới và của năm 2007 đã tạo nên sức mạnh mới, lòng tin, sự đoàn kết nhất trí và tinh thần phấn khởi của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sức mạnh của cả hệ thống chính trị được tăng cường và gắn bó mật thiết với nhân dân. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao thành tựu và ủng hộ công cuộc đổi mới của đất nước ta; đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp tăng mạnh; hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiếp tục được duy trì và có mức tăng thêm; thị trường được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thuận lợi mới, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, trước hết và quan trọng nhất vẫn là những bất cập và yếu kém chủ quan của chúng ta. Mặt khác, trên thế giới, tuy hoà bình và hợp tác phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục tăng trưởng nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định rất khó lường; giá cả nguyên vật liệu tiếp tục ở mức cao; thị trường tài chính luôn biến động phức tạp.

Trong điều kiện đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nỗ lực cao nhất để tranh thủ tối đa thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành cơ bản nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 ngay trong năm 2008[15], tạo tiền đề để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 trong năm 2009. Tinh thần này được thấu suốt trong các nhiệm vụ chủ yếu dưới đây:

Phát triển kinh tế với tốc độ cao gắn liền với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của nền kinh tế, phấn đấu vượt ngưỡng "nước đang phát triển có thu nhập thấp"[16] ngay trong năm 2008; huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư phát triển mạnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tập trung sức phát triển nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giải quyết tốt hơn các vấn đề văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; tích cực, chủ động hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế có hiệu quả; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp.

II. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Các chỉ tiêu kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8,5 - 9,0% so với năm 2007; GDP theo giá hiện hành dự kiến khoảng 1.337 - 1.347 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 83 tỷ USD; GDP bình quân theo đầu người khoảng 960 USD.Trong chỉ đạo điều hành, phấn đấu đạt tốc độ tăng GDP là 9%.

Giá trị tăng thêm của ngành nông lâm ngư nghiệp tăng khoảng 3,5 - 4%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,6 - 11%; ngành dịch vụ tăng khoảng 8,7 - 9,2%.

Tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong GDP giảm từ 20% năm 2007 xuống còn 19,3% năm 2008; công nghiệp và xây dựng tăng từ 41,8% lên 42,2%; dịch vụ tăng từ 38,2% lên 38,5%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu 57,6 - 58,6 tỷ USD, tăng 20 - 22% so với năm 2007; tổng kim ngạch nhập khẩu 68,4 - 69,5 tỷ USD, tăng 20 - 22%; nhập siêu dự kiến khoảng 10,8 - 10,9 tỷ USD, bằng 18,6 - 18,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 567,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,1% so với ước thực hiện năm 2007, bằng 42% GDP.

Tổng thu ngân sách nhà nước 321,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với ước thực hiện năm 2007; tổng chi ngân sách nhà nước 397,38 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2007. Bội chi ngân sách nhà nước bằng 5% GDP.

Chỉ số giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)[17].

2. Các chỉ tiêu xã hội

Nâng số tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở lên 46. Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 13%; trung học chuyên nghiệp tăng 16,5%; cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 18%.

Duy trì mức giảm tỷ lệ sinh năm 2008 là 0,3‰. Dân số 86,3 triệu người.

Tạo việc làm cho khoảng 1,7 triệu lượt người lao động, trong đó xuất khẩu lao động 8,5 vạn người. Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 11 - 12%.

Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 22%. Số giường bệnh trên 1 vạn dân: 25,7 giường.

Nâng diện tích nhà ở lên 12 m2 sàn/người.

3. Các chỉ tiêu môi trường

Cung cấp nước sạch cho 75% dân số nông thôn và cho 85% dân số đô thị.

Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 60%.

Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom: 80%. Tỷ lệ xử lý chất thải nguy hại: 64%. Tỷ lệ xử lý chất thải y tế: 86%.

Xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: 60%.

Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2008 đạt 40%.

III. CÁC GIẢI PHÁP

Trong năm 2008, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp mà Đại hội X của Đảng và Quốc hội đã đề ra trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 và hệ thống các giải pháp đã được trình bày trong các báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội. Tôi chỉ xin đề cập một số giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của nền kinh tế

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, xây dựng các thể chế để tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường, đặc biệt là thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường dịch vụ, thị trường sản phẩm khoa học công nghệ. Ban hành các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh, có tiềm năng phát triển lớn, có hiệu quả kinh tế cao.

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan trong quá trình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh; phấn đấu khi Quốc hội ban hành luật và pháp lệnh thì Chính phủ có các văn bản hướng dẫn thực hiện. Tập trung xây dựng và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực thi hành.

Tiếp tục cải cách mạnh các thủ tục hành chính tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Đẩy mạnh đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá; chỉ đạo chặt chẽ và có hiệu quả việc cổ phần hóa, nhất là các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty của Nhà nước. Hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế quản lý, vận hành của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Tăng cường năng lực của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Khuyến khích phát triển mạnh các doanh nghiệp cổ phần và các loại hình kinh tế dân doanh. Tổng kết 5 năm thực hiện  Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về kinh tế tập thể. Tôn vinh các doanh nhân có tài năng, thành đạt và có tâm huyết với đất nước.

Tích cực vận động và tạo mọi thuận lợi để thu hút mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các dự án lớn, dự án đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định về quy hoạch, về bảo vệ môi trường và bảo đảm các quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp; chủ động giải quyết mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp và người lao động, xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ đình công. Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA, nâng cao năng lực, trách nhiệm của các Ban Quản lý dự án và các cán bộ làm Dự án. Hoàn thiện khung pháp lý để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch, bảo đảm cho chiến lược và quy hoạch đáp ứng được yêu cầu định hướng của sự phát triển, là căn cứ cho đầu tư, là cơ sở để điều hành, giám sát và đánh giá hiệu quả của nền kinh tế. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước và phải được quản lý chặt chẽ.

Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch vùng và quy hoạch các ngành kinh tế, trước hết là quy hoạch các ngành sản xuất nông nghiệp để sớm hình thành các vùng nguyên liệu tập trung và các vùng sản xuất áp dụng công nghệ cao. Bổ sung, điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp gắn với quy hoạch các khu dân cư, khuyến khích đầu tư xây dựng nhà chung cư tại các khu công nghiệp. Xây dựng nhanh và nâng cao chất lượng quy hoạch các đô thị, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các khu đô thị và kinh doanh bất động sản; khắc phục tình trạng xây dựng trái phép.

Tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đồng thời với việc quản lý chặt quỹ đất sản xuất lương thực để bảo đảm an ninh lương thực lâu dài. Nâng cao trình độ thâm canh, tăng năng suất, bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi. Phát triển vững chắc các cây công nghiệp theo quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến. Tổng kết và nhân rộng kết quả thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng. Khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ để tăng hiệu quả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản. Nâng cao khả năng cảnh báo, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai; đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi. Đồng thời với việc miễn thủy lợi phí cho nông dân, tiếp tục rà soát lại các khoản đóng góp của dân, bãi bỏ các quy định thu không còn phù hợp và các quy định thu trái pháp luật; các khoản đóng góp thực sự tự nguyện của nhân dân phải được công khai và sử dụng đúng mục đích. Tăng cường cán bộ và kinh phí cho công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống, chuyển các cơ sở gây ô nhiễm trong khu dân cư đến khu công nghiệp và cụm ngành nghề nông thôn.

Khuyến khích phát triển mạnh sản xuất công nghiệp gắn với nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và bảo đảm cân đối cung cầu về những sản phẩm công nghiệp cơ bản như điện, xăng dầu, than, phân bón, thép, xi măng.... Bổ sung chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các ngành năng lượng, sản xuất nguyên vật liệu quan trọng, công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp phụ trợ; đồng thời chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống có lợi thế cạnh tranh. Các hiệp hội ngành nghề chú trọng đề xuất các biện pháp trợ giúp thiết thực các doanh nghiệp trong hiệp hội nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.

Tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng dịch vụ cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phát triển các dịch vụ vận tải, thương mại, du lịch, bưu chính - viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; chú trọng mở rộng các dịch vụ mới, nhất là các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.

Tổ chức thực hiện đồng bộ chiến lược phát triển kinh tế biển. Ban hành quy hoạch và các cơ chế chính sách phù hợp để phát triển mạnh và có hiệu quả các ngành nghề và khu kinh tế ven biển.

Tiếp tục rà soát, bổ sung chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. Ưu tiên bố trí vốn của Nhà nước để đầu tư phát triển nhanh hơn các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn.

Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và chuyển giao công nghệ, gắn phát triển khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh, đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, tham gia vào việc xử lý các dịch bệnh, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Nhà nước tiếp tục đầu tư thiết thực cho khoa học, cùng với việc chuyển các tổ chức khoa học công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Phát triển thị trường khoa học công nghệ, hỗ trợ hình thành và phát triển các sàn giao dịch công nghệ, các chợ công nghệ - thiết bị. Tập trung chỉ đạo phát triển nhanh các khu công nghệ cao. Phát triển một số sản phẩm và dịch vụ khoa học có tầm quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả đóng góp của khoa học công nghệ.

2. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

Cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 trình Quốc hội tuy đã phản ảnh sự cố gắng của các ngành, các địa phương, nhưng vẫn chưa thật sự vững chắc, nhất là các khoản thu chi về dầu thô, bù lỗ kinh doanh dầu và dự phòng ngân sách còn quá mỏng[18]. Các cấp và các ngành chức năng phải quyết liệt chống thất thu, chống buôn lậu và gian lận thương mại, phải kiên quyết thu hồi số thuế nợ đọng, phấn đấu tăng thu bổ sung vào nguồn dự phòng ngân sách để giải quyết kịp thời các nhu cầu cấp bách phát sinh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách và tài sản công; công khai tài chính các quỹ của tất cả các tổ chức xã hội có nhận tài trợ của Nhà nước và các quỹ tài chính ở địa phương. Thực hiện kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty.

Điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái linh hoạt theo nguyên tắc thị trường. Hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở đi đôi với phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích ngân hàng. Tự do hóa lãi suất và mở rộng công cụ thanh toán không dùng tiền mặt. Kiểm soát các luồng tiền tệ trong nền kinh tế kể cả ngoại tệ đầu tư gián tiếp của nước ngoài để chủ động thực hiện các giải pháp điều hoà tổng lượng tiền trong lưu thông.

Chủ động thực hiện các biện pháp kinh tế và tiền tệ để kiềm chế lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thực hiện kiểm soát giá đối với những hàng hoá thiết yếu theo nguyên tắc thị trường, không để xảy ra đầu cơ và các đột biến về giá. Xử lý nghiêm các hành vi liên kết, lạm dụng vị thế độc quyền để áp đặt giá, nhất là giá các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Nghiên cứu thành lập cơ quan giám sát để giúp Chính phủ kiểm soát vĩ mô trong hoạt động của ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các quỹ đầu tư.

Tăng cường các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và kiềm chế nhập siêu. Tập trung tháo gỡ các vướng mắc về chính sách và thủ tục hành chính để thúc đẩy xuất khẩu. Khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ và sử dụng nguyên liệu trong nước, góp phần tăng giá trị nội địa của hàng xuất khẩu và giảm dần sự phụ thuộc vào nhập ngoại.

Xây dựng và thực thi các hàng rào kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế đối với hàng nhập khẩu để bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. Hỗ trợ các doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp trong các vụ kiện bán phá giá, hạn chế thấp nhất các thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.

Thúc đẩy đàm phán và ký kết các hiệp định công nhận lẫn nhau với các nước về tiêu chuẩn hóa, đặc biệt là các tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm... Thực hiện giám sát chặt chẽ chất lượng hàng hóa và việc tuân thủ hợp đồng đối ngoại của các doanh nghiệp xuất khẩu. Xử lý nghiêm những doanh nghiệp làm mất uy tín hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới.

Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 450.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng. Để việc điều chỉnh lương tối thiểu không trở thành nguyên nhân tăng lạm phát, Chính phủ đề nghị tiếp tục thực hiện các biện pháp tạo nguồn tăng lương như đã thực hiện trong các năm trước đây; đồng thời, yêu cầu các ngành, các cấp, các đơn vị thực hiện triệt để Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất, trong chi tiêu ngân sách và sử dụng tài sản công.

3. Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng

Nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản trong ngân sách nhà nước năm 2008[19] thấp hơn năm 2007 là một khó khăn lớn. Dành ưu tiên số vốn này để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn; các dự án có khả năng thu hồi vốn chuyển sang thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng. Các địa phương phải dùng toàn bộ số thu về xổ số kiến thiết để đầu tư xây dựng các công trình y tế, giáo dục. Dành một phần số thu vượt dự toán để bổ sung xây dựng các công trình thuộc các lĩnh vực văn hóa, xã hội.

Trên cơ sở bảo đảm cân đối vĩ mô, Chính phủ tiếp tục phát hành khoảng 4.000 - 5.000 tỷ đồng trái phiếu giáo dục và khoảng 27.000 - 28.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để đẩy nhanh chương trình kiên cố hóa trường học, các công trình thiết yếu về giao thông, thủy lợi; hoàn thành cơ bản chương trình đường giao thông đến trung tâm xã, chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và chương trình xây dựng hạ tầng các xã biên giới. Ngoài ra, sẽ phát hành thêm khoảng 4.000 đến 5.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để sớm hoàn thành chương trình đầu tư xây dựng các bệnh viện tuyến huyện. Thực hiện đồng bộ các giải pháp, trước hết là các giải pháp về quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, các thủ tục hành chính trong xây dựng... để khắc phục tình trạng giải ngân chậm, tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Tập trung chỉ đạo thực hiện đúng tiến độ các dự án đầu tư quan trọng của đất nước, nhất là các công trình trọng điểm quốc gia. Phê duyệt quy hoạch, ban hành các chính sách và danh mục các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội cần khuyến khích đầu tư để các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư với các hình thức thích hợp. Chính phủ đang chỉ đạo chuẩn bị đầu tư 30 dự án giao thông có tính chiến lược đến năm 2020 và đang xây dựng danh mục các dự án đầu tư quan trọng của các ngành khác. Thực hiện nhiều hình thức đầu tư khác nhau như: xây dựng - khai thác - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT), xây dựng - chuyển giao - khai thác (BTO)...; thực hiện việc bán, cho thuê, thuê quản lý các kết cấu hạ tầng của Nhà nước, dùng số vốn thu được để đầu tư các dự án mới. Khuyến khích mở rộng các quỹ hỗ trợ phát triển đô thị. Tập trung xây dựng quy hoạch phát triển đô thị ở các thành phố, thị xã, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở, văn phòng, khách sạn và các công trình công cộng.

Tăng cường công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, bảo đảm hiệu quả đầu tư. Người quyết định đầu tư và chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả của dự án đầu tư. Trong điều kiện số vốn có hạn, các Bộ và các địa phương cần bố trí tập trung đầu tư dứt điểm, sớm đưa công trình vào sử dụng. Trong năm 2008, ngân sách trung ương hỗ trợ đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA ở những địa phương khó khăn. Đối với chương trình kiên cố hóa trường học bằng vốn trái phiếu giáo dục, Chính phủ chỉ giao tổng mức vốn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức vốn đầu tư cho từng loại công trình trên cơ sở bảo đảm đúng tiêu chí trường, lớp chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. 

4. Tập trung sức phát triển nguồn nhân lực

Năm 2008, sẽ triển khai các giải pháp đồng bộ để tạo ra những đột phá về nâng cao chất lượng và hiệu quả của đào tạo nhân lực, làm cho nguồn nhân lực trở thành một yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư và là một lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế nước ta. Nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo nghề từ trình độ sơ cấp tới đại học với phương châm đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Có chính sách và cơ chế khuyến khích để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tổ chức đào tạo và cung cấp nhân lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất kinh doanh. Tập trung xây dựng một số trường dạy nghề, trường đại học, cao đẳng đạt trình độ quốc tế. Triển khai trong cả nước việc cho vay với lãi suất thích hợp để học nghề ở mọi trình độ, tăng nhanh tỷ lệ lao động đã qua đào tạo.

Tiếp tục cuộc vận động chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục phổ thông, nâng cao đạo đức nhà giáo. Chú trọng việc đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập; nâng cao chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ giáo viên; khuyến khích phát triển mạnh việc dạy và học ngoại ngữ. Đổi mới và phát triển các trường chuyên trong cả nước như một giải pháp cơ bản để bồi dưỡng nhân tài ở lứa tuổi học sinh. Thực hiện phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học; phấn đấu để năm 2008 đạt phổ cập trung học cơ sở ở 46 tỉnh, thành phố.

Xây dựng chính sách về nhân tài; có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài; khuyến khích phát huy tài năng, đặc biệt là tài năng của lớp trẻ. Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực từ khâu tuyển dụng, bố trí công việc, chính sách tiền lương, khen thưởng, kỷ luật. Tôn vinh các nhà khoa học có đóng góp thiết thực cho phát triển đất nước.

Làm tốt hơn công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Thực hiện tốt chiến lược y tế dự phòng, quy hoạch hệ thống y tế và các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, sức khoẻ, vệ sinh môi trường. Lồng ghép các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong các chính sách, các chương trình, các dự án phát triển. Xây dựng cơ chế đồng bộ để kiểm soát thị trường thuốc. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và những người cận nghèo. Tập trung giải quyết tốt vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm và xây dựng Luật An toàn thực phẩm; hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm vệ sinh, an toàn thực phẩm.

Kiện toàn đủ mạnh tổ chức làm công tác kế hoạch hoá dân số thuộc Bộ Y tế từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động và kết hợp chặt với thực hiện các biện pháp chuyên môn kỹ thuật, phấn đấu đạt kế hoạch giảm sinh đã đề ra trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và công tác bảo đảm an toàn lao động.

Xây dựng nhân cách, phát huy giá trị văn hoá, tinh thần của người Việt Nam, tăng sức đề kháng chống lại văn hoá đồi trụy. Thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Tăng cường các biện pháp phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường sống lành mạnh, an toàn tại các đơn vị cơ sở, phường xã, doanh nghiệp, trường học, khu dân cư... Tăng kinh phí cho công tác bảo tồn, tôn tạo, chống xuống cấp các di tích lịch sử văn hóa, gắn với phát triển du lịch để phát huy có hiệu quả giá trị di sản văn hóa dân tộc.

5. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội

Tăng đầu tư của ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo; bảo đảm phát triển kinh tế gắn liền với việc giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề văn hoá, xã hội.

Đổi mới cơ chế chính sách, nhất là cơ chế chính sách tài chính để khuyến khích phát triển nhanh sự nghiệp giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo hướng: ngân sách nhà nước tiếp tục đầu tư và tăng tỷ trọng đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của các đơn vị công lập, đào tạo cán bộ cho ngành y tế, giáo dục và để hỗ trợ toàn bộ chi phí giáo dục, y tế theo chế độ quy định cho các đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ một phần cho người cận nghèo; những người có thu nhập trung bình trở lên cần đóng góp với Nhà nước, chi trả phí dịch vụ theo nguyên tắc tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ chi phí hoạt động thường xuyên của cơ sở giáo dục, y tế.

Các cơ sở giáo dục đào tạo và khám chữa bệnh công lập được tự chủ hạch toán thu - chi từ nguồn ngân sách nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn thu từ phí dịch vụ do Nhà nước và những người thụ hưởng dịch vụ chi trả để trả lương phù hợp cho cán bộ, viên chức và trang trải chi phí hoạt động; được quyết định tổ chức, biên chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình; được góp vốn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng mới các cơ sở giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khoẻ theo yêu cầu của xã hội.

Có chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng và thuế để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo và khám chữa bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Các cơ sở ngoài công lập được quyết định và niêm yết công khai mức giá phù hợp với chất lượng dịch vụ. Nhà nước dành nguồn vốn cho vay với các điều kiện ưu đãi để những người cận nghèo và những người có hoàn cảnh khó khăn được vay để học tập và khám chữa bệnh.

Phấn đấu thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và các chương trình hỗ trợ về sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo, đồng bào có hoàn cảnh khó khăn. Bổ sung vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay xóa đói giảm nghèo. Tập trung chỉ đạo để phát triển nhanh đào tạo nghề và giải quyết việc làm, đặc biệt là cho lực lượng lao động trẻ; đẩy mạnh xuất khẩu lao động, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người Việt Nam lao động ở nước ngoài.

Chính phủ tiếp tục ban hành chính sách để phát triển các hoạt động an sinh xã hội; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện cuộc vận động vì người nghèo nhằm huy động tiềm lực của toàn dân, của cộng đồng doanh nghiệp và của từng gia đình để phấn đấu giảm nghèo bền vững và vươn lên làm giàu.

Đồng thời với việc quy hoạch, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và tổ chức lại hoạt động vận tải, đặc biệt là vận tải tuyến Bắc - Nam và vận tải ở các đô thị; trước mắt, tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông theo Nghị quyết của Chính phủ[20]. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông. Kiên quyết thực hiện quy định về đội mũ bảo hiểm. Tăng cường lực lượng cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông và huy động lực lượng tình nguyện của nhân dân để kiểm tra, giám sát viÖc chấp hành luật lệ giao thông. Xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông.

6. Bảo vệ môi trường

Tổ chức thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường và Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, coi đây là nhiệm vụ cấp bách để phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Khuyến khích và có biện pháp nhân rộng các mô hình phát triển bền vững điển hình; đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, vào việc triển khai từng dự án và hoạt động của từng doanh nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ chất thải, nhất là chất thải độc hại. Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, thu gom, xử lý và tái chế chất thải, ứng dụng công nghệ mới để làm sạch môi trường. Đẩy mạnh công tác trồng và bảo vệ rừng. Thực hiện tốt công tác quy hoạch và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản.

Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường. Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường. Kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường.

7. Đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường công tác phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ sẽ đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể về cải cách hành chính đến năm 2010. Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp, ổn định tổ chức của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, coi đây là khâu đột phá, tập trung trước hết vào những nơi, những việc đang gây vướng mắc, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Phân cấp mạnh cho cấp dưới đi đôi với việc tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên; nâng cao năng lực điều hành thực hiện của chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở.

Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Thực hiện nghiêm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan hành chính; phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức, phẩm chất cho cán bộ, công chức gắn với cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và của toàn dân đối với hoạt động của các cơ quan công quyền và cán bộ, công chức nhà nước.

Đề cao trách nhiệm của cấp uỷ Đảng và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Kiện toàn tổ chức và tăng cường hoạt động của các Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng; nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, thanh tra và điều tra, truy tố, xét xử các vụ tham nhũng theo đúng quy định của pháp luật. Công bố công khai kết quả xử lý các vụ việc tham nhũng. Thực hiện công khai thu nhập và chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức theo quy định để phòng ngừa tham nhũng. Phát huy vai trò của nhân dân và các cơ quan báo chí trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Từng cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch hành động cụ thể để thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Quy định cụ thể việc mua sắm phương tiện làm việc, chi phí tiếp khách, sử dụng xe công, điện thoại công... Kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Tập trung chỉ đạo giải quyết có kết quả khiếu nại, tố cáo của công dân. Rà soát sửa đổi, bổ sung thích hợp các quy định về thu hồi đất, đền bù, tái định cư và bảo đảm cuộc sống của người dân trong diện thu hồi đất. Thành lập các Đoàn thanh tra của Trung ương về các địa phương có nhiều khiếu kiện để cùng với địa phương giải quyết dứt điểm. Người đứng đầu cấp uỷ và chính quyền các cấp phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo giải quyết khiếu nại của công dân ở địa phương mình.

8. Bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội

Tăng cường tiềm lực và nâng cao sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đề cao cảnh giác, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Thực hiện có hiệu quả chiến lược và các chương trình, kế hoạch về quốc phòng, an ninh, phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý. Xây dựng một xã hội an toàn, lành mạnh, dân chủ và kỷ cương. Tăng cường vận động nhân dân và bằng các biện pháp thích hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền... để gây mất ổn định chính trị - xã hội. Nâng cao hiệu quả hợp tác về quốc phòng và an ninh với các nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuyên truyền vận động nâng cao lòng tự trọng của người phụ nữ Việt Nam. Hoàn thiện các quy định pháp luật về việc kết hôn với người nước ngoài, bảo đảm hôn nhân tự nguyện, phù hợp với thuần phong, mỹ tục Việt Nam, bảo vệ quyền lợi hợp pháp sau hôn nhân của người phụ nữ; xử lý nghiêm những kẻ lợi dụng hoạt động môi giới kết hôn để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

9. Tăng cường hoạt động đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp tích cực để tiếp tục đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Phát triển mạnh mẽ công tác đối ngoại nhân dân. Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, ổn định, hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia và quyền chính đáng của con người.

Chúng ta trân trọng cám ơn các nước thành viên của Liên hợp quốc đã tín nhiệm bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009. Việt Nam sẽ khẩn trương chuẩn bị các điều kiện và sẽ nỗ lực phấn đấu đóng góp tích cực vào sứ mạng cao cả của Hội đồng bảo an là gìn giữ hoà bình và an ninh trên toàn thế giới.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các cam kết quốc tế. Các ngành, các cấp, các đơn vị cần căn cứ vào các cam kết trong WTO, xây dựng kế hoạch hành động của mình để tranh thủ tối đa các cơ hội và hạn chế các tác động bất lợi của hội nhập. Tích cực thực hiện các chương trình hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông, tuyến đường xuyên Á, các hành lang và vành đai kinh tế.

Tăng cường các hoạt động ngoại giao phục vụ kinh tế; phối hợp hành động giữa các cơ quan chức năng của Nhà nước với các doanh nghiệp trong công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch. Vận động các nước công nhận nước ta có nền kinh tế thị trường để bảo đảm cho doanh nghiệp của ta không bị phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại quốc tế.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tăng cường quan hệ hợp tác với các nước để tạo mọi thuận lợi cho đồng bào ta làm ăn sinh sống học tập và hoà nhập tốt với cộng đồng nước sở tại; đoàn kết cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau, giữ gìn bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc và hướng về quê hương Tổ quốc. Thực hiện tốt các quy định về miễn thị thực, về mua nhà ở và đầu tư về trong nước. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để những nhà khoa học có tâm huyết về nghiên cứu, giảng dạy và làm việc trong nước. Khẩn trương nghiên cứu để trình Quốc hội xem xét nguyện vọng hai quốc tịch của đồng bào ta đang định cư sinh sống ở nước ngoài.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Nhận rõ trách nhiệm trước đất nước, trước nhân dân, Chính phủ sẽ làm hết sức mình để hoàn thành trọng trách được giao; đồng thời xin trân trọng đề nghị Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và đồng bào ta trong cả nước tăng cường giám sát, hợp tác và cùng nhau chung sức chung lòng, nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, tạo sự chuyển biến đồng bộ và mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 - năm bản lề của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội thành hiện thực sinh động trong cuộc sống.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí và các vị đại biểu.


Phụ lục I

CÁC CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH CHỦ YẾU NĂM 2007, 2008

VÀ 5 NĂM 2006 - 2010

_________

 

STT

Tên chỉ tiêu

Đơn vị

Kế hoạch 2007

Ước TH năm 2007

Kế hoạch  năm 2008

Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010

1

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

%

8,2 - 8,5

8,5

8,5 - 9

7,5 - 8

2

Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, ngư nghiệp

%

3,5 - 3,8

3,5

3,5 - 4

3 - 3,2

3

Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng

%

10,5 - 10,7

10,6

10,6 - 11

9,5 - 10,2

4

Giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ

%

8 - 8,5

8,7

8,7 - 9,2

7,7 - 8,2

5

Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu

%

17,4

20,5

20 - 22

16

6

Tốc độ tăng tổng kim ngạch nhập khẩu

%

15,5

27,0

20 - 22

14,7

7

Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP

%

40

40,6

42

40

8

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước

Nghìn tỷ VNĐ

281,9

287,9

321,4

1.484,9

9

Tổng chi ngân sách nhà nước

Nghìn tỷ VNĐ

357,4

368,3

397,4

1.815,1

10

Bội chi ngân sách nhà nước

% so với GDP

5

4,95

5

5

11

Tốc độ tăng giá tiêu dùng

%

< % tăng GDP

< % tăng GDP

< % tăng GDP

< % tăng GDP

12

Số địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Tỉnh

40

40

46

64

13

Tốc độ tăng tuyển mới đại học và cao đẳng

%

10

11,7

13

10,3

14

Tốc độ tăng tuyển mới trung cấp chuyên nghiệp

%

15

20

16,5

14,7

15

Tốc độ tăng tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp  nghề

%

16,5

17,6

18

17

16

Mức giảm tỷ lệ sinh

%o

0,3

0,25

0,3

0,4

17

Tạo việc làm

Triệu LĐ

1,6

1,68

1,7

8 tr/5năm

 

Trong đó: xuất khẩu lao động

Nghìn LĐ

80

82

85

500

18

Tỷ lệ hộ nghèo

%

16

14,7

11 - 12

10 - 11

19

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng

%

22,3

22,3

<22

<20

20

Tỷ lệ che phủ rừng

%

39

39

40

42 - 43

21

Cung cấp nước sạch cho nông thôn

%

67,2

71

75

75

22

Cung cấp nước sạch cho đô thị

%

80

80

85

95

23

Xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

%

50

50

60

50

 


[1] Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007.

[2] Trong số 23 chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2007, chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 21 chỉ tiêu, có 2 chỉ tiêu có thể chưa đạt kế hoạch đề ra là Mức giảm tỷ lệ sinh và Tốc độ tăng tổng kim ngạch nhập khẩu. Xin xem chi tiết tại Phụ lục I.

[3] Dự kiến đến hết năm 2007, chúng ta đã hoàn thành vượt mức 10 chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, hoàn thành và hoàn thành cơ bản 17 chỉ tiêu, còn 25 chỉ tiêu dự kiến hoàn thành vào năm 2009. Xin xem chi tiết tại Phụ lục II.

[4] Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 20,4% xuống 20%, công nghiệp và xây dựng tăng từ 41,5% lên 41,8%.

[5] Tổng dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 30,3% GDP (so với giới hạn cho phép là khoảng 50% GDP), dư nợ nước ngoài của Chính phủ bằng 36% GDP.

[6] Bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ.

[7]  Chỉ tiêu Quốc hội đề ra cho năm 2007 là 16%.

[8] Tám vụ án trọng điểm về tham nhũng đến nay đã đưa ra xử được 4 vụ, còn 4 vụ đã kết thúc điều tra, truy tố, đang chuẩn bị đưa ra xét xử.

[9] Dự toán năm 2007 bù lỗ kinh doanh dầu là 8.200 tỷ đồng, nhưng mới thực hiện được 2.200 tỷ đồng, còn thiếu 6.000 tỷ đồng.

[10] Mức tăng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 ước là 27% trong khi chỉ tiêu kế hoạch là 15,5%. Mức tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 20,5% trong khi năm 2006 là 22,8%. Nhập siêu năm 2006 là 12,7%; năm 2005 là 14%; năm 2004 là 20,6%; năm 2003 là 25,3%.

[11]  Chín tháng đầu năm 2006 tăng 5,1%.

[12] Về đầu tư bằng vốn trái phiếu Chính phủ, chín tháng đầu năm, Bộ Giao thông vận tải giải ngân được 26,7% so với kế hoạch năm 2007; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giải ngân được 28%; các địa phương giải ngân được 27,3% kế hoạch năm, trong đó, có 10 địa phương giải ngân dưới 10%, cá biệt có 4 tỉnh (Bà Rịa - Vũng Tàu, Cà Mau, Kiên Giang, Điện Biên) chưa thực hiện giải ngân vốn trái phiếu Chính phủ.

[13] Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007.

[14] Bình quân 5 triệu đồng/hộ.

[15] Trong số 52 chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, đến năm 2008 dự kiến có 12 chỉ tiêu vượt kế hoạch (23,1%), 6 chỉ tiêu đạt kế hoạch (11,5%), 13 chỉ tiêu cơ bản đạt kế hoạch (25%). Xin xem chi tiết tại Phụ lục II.

[16] Theo Ngân hàng thế giới, năm 2003, nước thu nhập thấp có mức bình quân GDP đầu người thấp hơn 765 USD; theo thời giá hiện nay, con số này ở vào khoảng 875 USD/người. Nếu với tốc độ tăng trưởng trên 8,5%/năm thì đến năm 2008, Việt Nam sẽ đạt mức GDP bình quân đầu người khoảng 960 USD/năm (Năm 2007, ước GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 835 USD), tức là đạt chỉ tiêu "... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp" (Nhiệm vụ 1) như đã đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010.

[17] Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2008 so với năm 2007.

[18] Bằng 2,7% tổng số chi.

[19] Khoảng 98.130 tỷ đồng.

[20] Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007.

 
In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2007 : Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2007 : Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 2 năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 2 năm 2007
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2007: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2007
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng Thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.