Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
17/08/2010 13:49:00


BỘ XÂY DỰNG

___

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

____

Hà nội, ngày 11 tháng 01 năm 2008

 

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH NĂM 2007 VÀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NĂM 2008 CỦA NGÀNH XÂY DỰNG

Phần 1

KIỂM ĐIỂM THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ NĂM 2007

 

Năm 2007 là năm đầu tiên kinh tế nước ta gia nhập WTO, hội nhập đầy đủ, toàn diện vào nền kinh tế thế giới tạo ra những cơ hội mới, thuận lợi mới cũng như những thách thức mới, sức cạnh tranh mới; là năm được Chính phủ xác định là năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 05 năm giai đoạn 2006-2010. Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác đã được ban hành và có hiệu lực, đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước ngành Xây dựng, góp phần tích cực giải quyết các vướng mắc; chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại trong hoạt động xây dựng trên phạm vi cả nước.

Phát huy những thành tựu đã đạt được trong các năm qua, năm 2007, mặc dù còn có nhiều khó khăn, thách thức như thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi, giá dầu thô, sắt thép và nhiều vật tư chủ yếu tiếp tục tăng cao, sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển của doanh nghiệp tăng trưởng cao và bền vững, lần đầu tiên tổng giá trị SXKD của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng đã vượt mốc 1.000 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất từ trước đến nay (30%), cao gấp hơn 2 lần so với mức tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp và xây dựng cả nước, đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị của đất nước. Sau đây là một số kết quả chủ yếu trên một số lĩnh vực của Ngành:

I. LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Đây là công tác trọng tâm hàng đầu của Bộ Xây dựng, bám sát Chương trình công tác của Chính phủ, năm 2007, Bộ Xây dựng đã tập trung công tác xây dựng pháp luật, triển khai thực hiện các đề án được thông qua với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là xây dựng đồng bộ, đầy đủ, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực thuộc Ngành xây dựng theo hướng phủ kín các lĩnh vực hoạt động, phân cấp mạnh, rõ quyền, rõ trách nhiệm, các thủ tục đơn giản, thông thoáng tạo điều kiện phát huy nguồn lực, thúc đẩy các hoạt động xây dựng của các tổ chức và cá nhân theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Trong năm 2007, Bộ đã trình ban hành, ban hành theo thẩm quyền 64 văn bản QPPL, trong đó:

- Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 09 Nghị định, 02 Nghị quyết, 05 Quyết định, 02 Chỉ thị và thông qua Đề án thí điểm hỗ trợ các hộ gia đình người có công với cách mạng đặc biệt khó khăn về chỗ ở tại tỉnh Quảng Nam.

- Ban hành theo thẩm quyền 26 Quyết định (trong đó có 17 Quyết định ban hành Tiêu chuẩn XDVN), 07 Chỉ thị và 13 Thông tư, đang hoàn chỉnh để ban hành 04 Quyết định và 05 Thông tư.

Bộ cũng đã hoàn chỉnh, hiện đang trình 01 Nghị quyết của UBTVQH, 06 Nghị định của Chính phủ; 06 Quyết định, 01 Chỉ thị của TTCP và 02 Đề án để ban hành trong thời gian tới.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã tiến hành rà soát báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng công trình phát hiện những vướng mắc, bất cập đề xuất các giải pháp tháo gỡ trong thực tế, nhất là những chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp quy. Trên cơ sở đề xuất của Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan, Chính phủ đã ra Nghị quyết 59 ngày 30/11/2007 về một số giải pháp xử lý vướng mắc trong đầu tư xây dựng cải cách doanh nghiệp.

Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật xây dựng đã được đặc biệt quan tâm. Bộ đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức các tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về xây dựng cho các loại đối tượng, đến tận cán bộ cấp xã, phường tại các địa phương. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật xây dựng ngày càng đa dạng, được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như: thông qua mạng điện tử, trang Webs, báo điện tử của Bộ Xây dựng; trên các báo, tạp chí của Ngành và các báo, tạp chí khác. Đặc biệt, Bộ đã tổ chức nhiều buổi giao lưu trực tuyến với các Sở Xây dựng để hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về xây dựng tại các địa phương. Ngoài ra, Bộ đã tổ chức các chuyến công tác làm việc với địa phương nhằm kiểm tra, đôn đốc, giải quyết các khó khăn vướng mắc, tăng cường năng lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước.

Về hoàn thiện Hệ thống Quy chuẩn Xây dựng, Tiêu chuẩn Xây dựng:

Trong năm 2007, Bộ đã chỉ đạo nghiên cứu Hệ thống Quy chuẩn xây dựng Việt Nam bao gồm: Quy chuẩn an toàn sinh mạng, Quy chuẩn phòng chống cháy, Quy chuẩn xây dựng nhà và công trình, Quy chuẩn qui hoạch xây dựng, Quy chuẩn xây dựng ngầm đô thị, Quy chuẩn xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, Quy chuẩn xây dựng công trình giao thông, Quy chuẩn xây dựng công trình thủy lợi và các quy chuẩn xây dựng khác. Các quy chuẩn này sẽ ban hành vào đầu năm 2008. Trong đó Quy chuẩn quy hoạch xây dựng đã lạc hậu, không phù hợp với điều kiện hội nhập và thu hút đầu tư sẽ được ban hành vào tháng 1/2008. Ngoài ra Bộ đã ban hành 17 Tiêu chuẩn xây dựng, trong đó có TCXD nhà và công trình trong vùng động đất. Đến nay, nếu tính cả các Tiêu chuẩn Xây dựng  các công trình giao thông do Bộ Giao thông-Vận tải ban hành và các Tiêu chuẩn Xây dựng công trình thủy lợi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, hiện nay, đã có hơn 1000 Tiêu chuẩn Xây dựng cho tất cả các lĩnh vực xây dựng: dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, vật liệu xây dựng... Các đối tượng tiêu chuẩn hóa đã bao quát hết các hoạt động xây dựng từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp, thử nghiệm, nghiệm thu đến khâu khai thác, vận hành, sử dụng, bảo quản, sản xuất vật liệu xây dựng, cấu kiện, sản phẩm cơ khí, thành phẩm xây dựng...

Với những kết quả như trên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Quy chuẩn Xây dựng, Tiêu chuẩn Xây dựng đã tương đối đầy đủ, thể hiện nội dung phân cấp mạnh hơn, làm rõ hơn trách nhiệm của các cấp, các ngành và các chủ thể tham gia đầu tư xây dựng, đồng thời giảm thiểu thủ tục hành chính, từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển thị trường xây dựng với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng.

Tuy nhiên, còn một số mặt chưa tốt là: chưa ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Quy chuẩn Xây dựng, Tiêu chuẩn Xây dựng.

2. Về phát triển đô thị và nhà ở (kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị và phát triển nhà)

Về quản lý kiến trúc, quy hoạch xây dựng:

Điểm nổi bật trong công tác quản lý kiến trúc quy hoạch là việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2007/NĐ-CP về quản lý kiến trúc đô thị, đây là Nghị định đầu tiên trong lĩnh vực quản lý kiến trúc được ban hành, là cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường hiệu lực công tác quản lý kiến trúc nhằm từng bước cải thiện diện mạo kiến trúc đô thị theo hướng văn minh, hiện đại và có bản sắc. Đã ban hành Thông tư số 08/2007/TT-BXD hướng dẫn về việc lập, thẩm định, phê duyệt Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.

Bộ đã tập trung chỉ đạo nghiên cứu điều chỉnh Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/02/2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị; nghiên cứu điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020. Đang tiến hành nghiên cứu, ban hành Thông tư hướng dẫn về quy hoạch xây dựng thay thế cho Thông tư số 15/2005/TT-BXD về hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng.

Tiếp tục tập trung chỉ đạo việc lập quy hoạch xây dựng các đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn, các khu công nghiệp, đặc biệt là quy hoạch xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng biên giới, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Duyên hải Bắc Bộ, Trung Trung Bộ. Đã hoàn thành cơ bản dự án Quy hoạch xây dựng vùng Hà Nội và vùng TP Hồ Chí Minh, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quý I/2008.

Tổng số các đô thị hiện có là 743 đô thị (gồm 2 thành phố loại đặc biệt, 3 thành phố loại I, 14 đô thị loại II, 44 đô thị loại III, 36 đô thị loại IV và 644 đô thị loại V) cùng với các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu đã góp phần tạo ra động lực phát triển kinh tế-xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cả hai khu vực đô thị và nông thông cả nước. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 28%.

Đến nay đã có 58 tỉnh lập và phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng tỉnh. Toàn bộ 93 thành phố, thị xã, 589 trên tổng số 621 thị trấn, 161 khu công nghiệp đã được lập quy hoạch xây dựng. Quy hoạch chi tiết xây dựng 1/2000 chủ yếu được lập cho các khu trung tâm hành chính, khu dân cư hoặc các khu chức năng của các đô thị, diện tích lập quy hoạch chi tiết 1/2000 chiếm từ 40-47% so với diện tích xây dựng ở các đô thị. Quy hoạch xây dựng nông thôn đã bước đầu được quan tâm, trên toàn quốc có 1.690 xã đã được lập quy hoạch xây dựng, đạt khoảng 20% trên tổng số xã trên toàn quốc.

Tuy nhiên, việc triển khai quy hoạch chi tiết chưa được coi trọng tại nhiều đô thị. Việc lập quy hoạch chi tiết còn bị động trước thực tế phát triển đô thị, chưa đáp ứng được yêu cầu quy hoạch phải đi trước một bước dẫn đến phải thỏa thuận quy hoạch, làm chậm tiến độ đầu tư và cấp phép xây dựng, gây phiền hà cho nhân dân, doanh nghiệp và bức xúc trong xã hội. Bộ Xây dựng đang chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc này, đặc biệt là tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn đã được các địa phương quan tâm nhưng kết quả đạt được chưa cao, số lượng các xã có quy hoạch mới chỉ đạt 2,8% tổng số xã trên toàn quốc (Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ đạt được là 42%; vùng Đông Nam Bộ-30%, vùng Tây Nguyên--21,7%, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ-21,1%, vùng Bắc Trung Bộ-5,9%, vùng Tây Bắc Bộ -18,6%, vùng Đông Bắc-15,3%, vùng Đồng bằng sông Hồng-27,1%).

Về hạ tầng kỹ thuật đô thị:

Nhằm từng bước giải quyết các bức xúc và những vấn đề tồn đọng do lịch sử để lại, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị, trong năm 2007, Bộ Xây dựng đã tập trung chỉ đạo hoàn chỉnh trình Chính phủ ban hành: Nghị định số 41/2007/NĐ-CP ngày 22/3/2007 về xây dựng ngầm đô thị, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 về quản lý chất thải rắn; Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp; Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 về sản xuất cung cấp và tiêu thụ nước sạch: Nghị định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang (đang trình ban hành). Các Nghị định này được ban hành và có hiệu lực đã hình thành hành lang pháp lý đồng bộ để phục vụ cho công tác quản lý trong lĩnh vực này, tạo tiền đề cho việc xây dựng Luật Quản lý hạ tầng đô thị sau này.

Bộ Xây dựng cũng đã tập trung chỉ đạo, nghiên cứu hoàn chỉnh, trình TTCP phê duyệt Quy hoạch thoát nước, quản lý chất thải rắn 03 vùng kinh tế trọng điểm khu vực Bắc Bộ, miền Trung và phía Nam; tiếp tục chỉ đạo và tổ chức nghiên cứu, rà soát nhằm hoàn thiện đồng bộ Quy chuẩn, trong đó có Quy chuẩn xây dựng công trình ngầm và Quy chuẩn xây dựng các công trình hạ tầng đô thị nói chung, các Tiêu chuẩn xây dựng, Định mức kinh tế-kỹ thuật các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị thực hiện mục tiêu hạ chi phí các dịch vụ đô thị, tăng nguồn lực để phát triển đô thị. Tập trung chỉ đạo, nghiên cứu, hoàn thiện một số công nghệ mới về tái chế, giảm thiểu  chôn lấp chất thải rắn (Đã trình Chính phủ Đề án xử lý chất thải rắn sử dụng công nghệ trong nước, với mục tiêu lượng rác chôn lấp giảm dưới 15%, với giá thành thấp hơn so với các dự án cùng loại sử dụng vốn nước ngoài). Tập trung triển khai các Chương trình, Dự án theo nhóm tỉnh: Dự án phát triển cấp nước đô thị Việt Nam (Ngân hàng Thế giới WB); Chương trình cấp nước và vệ sinh cho các thị trấn Việt Nam (Phần Lan); Dự án Cải thiện môi trường đô thị miền Trung (ADB); Dự án phát triển đô thị vừa và nhỏ miền Trung (ADB); Chương trình quy hoạch mô trường đô thị Việt Nam (EC); Chương trình nâng cao năng lực quản lý CTR và nước thải (GTZ). Tổ chức thành công Hội nghị chiếu sáng đô thị toàn quốc lần  thứ III ngày 28/11/2007 tại Hà Nội.

Hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp, thoát nước trong các đô thị đã có cải thiện bước đầu cả về chất và lượng. Đã có nhiều trục đường mới với lộ giới rộng và hệ thống hạ tầng đồng bộ đi kèm. Tại các đô thị lớn, hầu hết các trục đường chính đô thị đã được thảm bê tông nhựa. Tổng công suất thiết kế cấp nước đô thị đạt khoảng 4,82 triệu m3  /ngđ, tăng khoảng 2,5% so với công suất thiết kế năm 2006 là 4,7 triệu m3  /ngđ, chủ yếu là xây dựng mới hệ thống cấp nước ở các thị trấn. Tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước bình quân khoảng 65-70% (các đô thị lớn đạt khoảng 75%-80%). Mức sử dụng nước sạch bình quân 80-100l/người/ngày (các đô thị lớn đạt 100-120 l/người/ngày). Tỷ lệ thất thoát thất thu trung bình còn khoảng 32%. Đã có 32/64 đô thị là thành phố, thị xã, tỉnh lỵ đang triển khai dự án thoát nước từ nguồn vốn ODA với tổng mức đầu tư khoảng 32.000 tỷ đồng, đã góp phần cải thiện đáng kể tình trạng ngập úng cục bộ và ô nhiễm môi trường tại một số địa phương.

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tính trung bình cho cả nước hiện tại khoảng 80%. Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế và tái sử dụng khoảng 20-25%. Hệ thống chiếu sáng công cộng phát triển mạnh, đạt tốc độ tăng trưởng cao và có những chuyển biến rõ rệt về chất và lượng. Hiện nay tất cả các đô thị của Việt Nam đều có điện chiếu sáng với mức độ khác nhau. Tại các đô thị loại đặc biệt và loại I có 95-100% các tuyến đường chính được chiếu sáng, các đô thị loại II, III, tỷ lệ này chiếm gần 90%. Các đô thị loại IV và V tập trung chiếu sáng đường phố chính chủ yếu là những đoạn quốc lộ, tỉnh lộ đi qua đô thị.

Triển khai thực hiện Thông tư 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 về quản lý cây xanh đô thị, tại các đô thị cây xanh đã được đánh số, lập hồ sơ quản lý; nhiều địa phương đã ban hành Quy chế hướng dẫn quản lý cây xanh của địa phương mình như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Yên, Kon Tum, Cần Thơ...

Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục: Hiện tượng ùn tắc và tai nạn giao thông vẫn là mối lo ngại tại các đô thị lớn; hệ thống bến bãi đỗ xe còn thiếu và chưa được quan tâm đúng mức, tỷ lệ đất dành cho giao thông trong các đô thị còn thấp, hầu hết đạt dưới 10% đất xây dựng đô thị. Tỷ lệ đất dành cho bến bãi đỗ xe chưa được chú trọng (hiện tại dưới 1% đất xây dựng đô thị); thiếu sự thống nhất, đồng bộ trong xây dựng và khai thác hệ thống  hạ tầng kỹ thuật dọc các tuyến đường tại các đô thị. Về cấp nước đô thị, công suất khai thác vẫn còn thấp, khoảng 3,5 triệu m3/ /ngđ, đạt 72,6% công suất thiết kế, nguyên nhân là hệ thống được đầu tư chưa đồng bộ về mạng tiêu thụ dẫn đến việc khai thác còn bị hạn chế. Các công nghệ xử lý rác hiện nay đều chưa đáp ứng yêu cầu tái chế tối đa chất thải, tiết kiệm đất chôn lấp và đảm bảo vệ sinh môi trường...

Về công tác quản lý và phát triển nhà:

Điểm nổi bật trong lĩnh vực nhà ở và bất động sản là Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản được ban hành và có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển và quản lý nhà, kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng sản phẩm hoàng hóa bất động sản, nhà ở; hình thành và phát triển lý thị trường bất động sản.

Đáng chú ý là, tại kỳ họp thứ 02, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, lần đầu tiên chỉ tiêu xây dựng nhà ở được xác định là chỉ tiêu xã hội chủ yếu của Quốc gia, theo đó trong năm 2008 phấn đấu nâng diện tích nhà ở lên bình quân 12 m2  sàn/người, là căn cứ pháp lý để huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển nhà ở.

Trong năm 2007, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 34/2007/NQ-CP ngày 03/7/2007 về một số giải pháp để thực hiện việc cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ bị hư hỏng, xuống cấp; Nghị quyết số 48/2007/NQ-CP ngày 30/8/2007 về điều chỉnh một số nội dung trong chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 4575/QĐ-TTg ngày 20/4/2007 về việc cấp kinh phí cho chương trình hỗ trợ các hộ gia đình người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về nhà ở tại tỉnh Quảng Nam; Quyết định số 1187/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTG ngày 27/2/1996 về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 cải thiện nhà ở.

Ngoài ra dự thảo Đề án Xây dựng cơ chế thí điểm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội để thuê, Đề án thí điểm chính sách nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam cũng đã được hoàn chỉnh và đang trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để ban hành.

Đã nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 90/2006/NĐ-CP về nhà ở, trong đó mở rộng đối tượng được mua nhà cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Dự thảo Nghị định đang lấy ý kiến của các Bộ, ngành.

Bộ Xây dựng đã phối hợp với các địa phương triển khai xây dựng Chương trình phát triển nhà ở xã hội  tại TP. Hải Phòng và tỉnh Hà Tây; tiến hành kiểm tra việc thực hiện chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở đồng bằng sông Cửu Long. Đã tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở đồng bằng sông Cửu Long để kiểm điểm, đánh giá kết quả đã thực hiện và bàn biện pháp bảo đảm hoàn thành Chương trình vào cuối năm 2007; kiểm tra thực hiện việc quản lý sử dụng nhà công sở và việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê tại một số tỉnh, thành phố, Bộ, Ngành Trung ương.

Công tác bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê đã được đẩy mạnh hơn so với những năm trước đây. Theo báo cáo của 55 tỉnh, thành phố, đến nay đã bán được 11 triệu/16,5 triệu m2 sàn tương ứng với 232 nghìn/354 nghìn căn nhà, căn hộ (bằng 65,5%). Quỹ nhà ở còn lại là 122 nghìn căn, trong đó diện tích được bán là 45 nghìn căn.

Một số địa phương có nhiều nhà chung cư đã xuống cấp đã có sự chủ động trong việc điều tra, khảo sát, lập kế hoạch cải tạo hoặc xây dưng lại nhằm hạn chế sự cố có thể xảy ra và cải thiện điều kiện ở cho nhân dân đang sinh sống trong các khu nhà ở này.

Cùng với việc tăng cường phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, các đơn vị trong ngành xây dựng, các địa phương huy động mọi nguồn vốn cho việc đầu tư và phát triển các khu đô thị mới, nhằm tạo ra bước đột phá trong việc giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhân dân đô thị. Năm 2007, diện tích nhà ở tăng thêm khoảng trên 27 triệu m2 (đô thị khoảng trên 260 triệu m2, diện tích nhà ở bình quân đạt khoảng 10,8 m2/người; nông thông khoảng trên 630 triệu m2, diện tích bình quân đạt 10,5 m2/người .)

Tuy vậy, việc triển khai áp dụng Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn thi hành tại nhiều địa phương còn chậm. Một số dự án phát triển nhà ở khi triển khai còn gặp khó khăn do những quy định của pháp luật chưa có sự thống nhất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu công trình xây dựng còn chậm so với yêu cầu.

Với những kết quả đạt được trong công tác quản lý đô thị và phát triển nhà nêu trên, bộ mặt đô thị, chất lượng đời sống ở các đô thị, khu dân cư tập trung đã có những thay đổi đáng kể, ngày càng tiến bộ hơn, hiện đại hơn.

3. Tình hình quản lý xây dựng (hoạt động xây dựng)

3.1 Về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng:

Để tiếp tục phân cấp mạnh hơn cho cơ sở, thực hiện triệt để hơn công tác cải cách hành chính và quy định rõ hơn một số nội dung trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng, ngày 14/02/2007, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2007/TT-BXD hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các Nghị định số 16/2005/NĐ-CP và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP, trong đó giải thích rõ hơn việc xác định chủ đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước mà các văn bản trước đây chưa quy định rõ, theo nguyên tắc chủ yếu là giao cho đơn vị quản lý, sử dụng nhằm tạo điều kiện và gắn trách nhiệm của các đơn vị này trong việc quản lý dự án ngay từ khâu lập dự án đến khi kết thúc và đưa dự án vào khai thác sử dụng sau này đồng thời quy định rõ trình tự, thủ tục và đầu mối tổ chức thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở theo cơ chế một cửa liên thông; tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, rút ngắn thời gian thẩm định đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Đã tập trung nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 16/2005/NĐ-CP và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP về quản lý đầu tư xây dựng công trình nhằm tháo gỡ các vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp và các địa phương. Dự thảo đã trình Chính phủ trung tháng 11/2007.

Trong năm 2007, Bộ đã chỉ đạo nghiên cứu ban hành mô hình mẫu công sở các cơ quan hành chính nhà nước, ban hành quy định các yêu cầu về tiêu chuẩn xây dựng công sở các cơ quan hành chính nhà nước.

Bước đầu một số ngành và địa phương đã lập phương án sắp xếp lại mô hình các Ban quản lý dự án theo nguyên tắc tách bạch giữa chức năng, vai trò của chủ đầu tư và Ban quản lý dự án; đồng thời củng cố các Ban quản lý dự án cho đủ năng lực theo tinh thần mới để giúp chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên việc xác định chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước còn lúng túng, chưa thông suốt về nhận thức, nên nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện hoặc mới đang xây dựng phương án thực hiện.

3.2. Về công tác cấp giấy phép xây dựng:

Việc tiếp tục phân cấp mạnh cho chính quyền các cấp thực hiện công tác tổ chức cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn và đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai các quy định, chấn chỉnh tác phong lề lối làm việc của cán bộ, công chức đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư trong việc xin cấp phép xây dựng. Nhờ đó số lượng chủ đầu tư chấp hành việc xin giấy phép xây dựng đã tăng lên đạt 79,2% và số giấy phép xây dựng do các Sở Xây dựng cấp tiếp tục giảm, chỉ còn 8%.

Tuy nhiên, việc tổ chức cấp phép theo cơ chế "một cửa" chưa được thực hiện triệt để. Trên thực tế, chủ đầu tư vẫn phải qua "nhiều cửa" để xin thỏa thuận của các cơ quan có liên quan. Tỷ lệ công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao là 20,8%, xây dựng sai so với giấy phép vẫn còn 6%. Công tác cấp phép xây dựng tạm và nhà ở nông thôn chưa được đẩy mạnh vẫn còn bất cập, quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn chưa được chú trọng nên không có căn cứ để cấp phép xây dựng, đặc biệt là việc xây dựng dọc các tuyến đường giao thông ngoài đô thị.

3.3. Về công tác cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng

Công tác cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đã ổn định và đi vào nề nếp. Tính đến nay, các Sở Xây dựng đã cấp khoảng 29.000 Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng (trong đó khoảng trên 15.000 Chứng chỉ hành nghề giám sát).

Việc cấp chứng chỉ hành nghề đã góp phần vào quản lý năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức và các nhân hoạt động xây dựng. Bộ Xây dựng đang cải cách thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng theo hướng phân cấp cho các Sở Xây dựng chủ trì thực hiện.

3.4. Về tình hình chất lượng công trình xây dựng

Trong năm 2007, Bộ Xây dựng đã kiểm tra thực tế chất lượng một số công trình tại 18 tỉnh, thành phố và một số công trình do các Bộ, Ngành quản lý, HĐNTNN đã tổ chức kiểm tra 32 công trình và nghiệm thu 12 công trình do TTCP giao.

Mạng lưới kiểm tra chất lượng CTXD đã được mở rộng với 126 đơn vị thành viên.

Theo báo cáo của các địa phương, các Sở Xây dựng đã tiến hành kiểm tra chất lượng cho 1280/3969 công trình xây dựng trên địa bàn (tương ứng 32,2%), trong đó có 74 CTXD do Bộ, Ngành quản lý, 1206 công trình do địa phương quản lý. Chất lượng công trình khi nghiệm thu đạt tỷ lệ 72% loại khá, 28% loại trung bình.

Nhìn chung các công trình đều được kiểm soát tốt về chất lượng, nhiều công trình đạt chất lượng cao. Tuy nhiên gần đây, tại một số dự án đã để xảy ra sự cố về chất lượng công trình gây bức xúc trong xã hội như sập nhà số 106/9I Điện Biên Phủ - TP. HCM, sự cố sập nhà của Viện Nghiên cứu KHKT Nam Bộ, gây lún, nứt nhà dân khi thi công hầm bộ hành ngã tư Sở, sự cố sập cầu Cần Thơ, sự cố tại công trình Hồ chứa nước Cửa Đạt... Số công trình để xảy ra sự cố trong năm là 27 công trình, tăng cao so với năm 2006 (13 công trình). Nguyên nhân chủ yếu là do không thực hiện đúng các quy trình, quy phạm, buông lỏng công tác quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công, xây dựng...

3.5. Về kinh tế xây dựng

Đối với lĩnh vực quản lý kinh tế xây dựng, có thể nói năm 2007 là bước ngoặt về chuyển đổi cơ chế quản lý đầu tư xây dựng công trình theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa. Với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng sẽ được đổi mới căn bản toàn diện theo hướng thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể chủ động hơn trong quản lý chi phí hoạt động xây dựng. Triển khai thực hiện Nghị định, Bộ Xây dựng đã ban hành các Quyết định, Thông tư hướng dẫn lập và quản lý chi phí ĐTXDCT, hướng dẫn hợp đồng trong xây dựng, phương pháp xác định giá ca máy và thiết bị xây dựng, hướng dẫn xây dựng và quản lý chi phí thuê tư vấn nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam, đã công bố các tập định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn ĐTXDCT, phương pháp xác định chỉ số giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng, các tập suất vốn đầu tư, các tập định mức dự toán xây dựng để các Bộ, Ngành, địa pương xây dựng đơn giá và công bố cho các chủ đầu tư, các cơ quan quản lý áp dụng hoặc tham khảo cho việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng cho dự án của mình.

Đến nay, Bộ đã ban hành 17 văn bản, trong đó có 04 Thông tư hướng dẫn Nghị định này và 13 văn bản theo hình thức cho công bố.

Cùng với việc triển khai Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007, Bộ Xây dựng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn việc quản lý chi phí các dịch vụ công ích đô thị, xác định giá dịch vụ tiêu thụ nước sạch, phí thoát nước, chất thải rắn, chi phí quy hoạch, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng cho Chương trình 235 giai đoạn II.

Đến nay, Bộ Xây dựng đã công bố gần 10.000 danh mục định mức thuộc các loại công tác trong hoạt động xây dựng. Hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật trong xây dựng đã được hoàn thiện cơ bản theo hướng chỉ đạo của Chính phủ: Nhà nước quản lý định mức kinh tế-kỹ thuật, thị trường quyết định giá cả để phù hợp với thực tế thi công xây dựng và thông lệ quốc tế, tiến tới thực hiện giá cả xây dựng theo thị trường.

Bộ Xây dựng cũng đã chỉ đạo để các địa phương công bố các bộ Đơn giá xây dựng, giá ca máy để phục vụ công tác quản lý chi phí xây dựng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn.

4. Công tác quản lý phát triển vật liệu xây dựng

Nhằm tăng cường công tác quản lý vật liệu xây dựng, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 124/2007/NĐ-CP ngày 31/7/2007 quản lý VLXD, đây là lần đầu tiên có một văn bản quy phạm pháp luật cấp Nghị định để điều chỉnh hoạt động quản lý vật liệu xây dựng trong phạm vi cả nước.

Bộ Xây dựng đã chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Quy hoạch tổng thể ngành Công nghiệp VLXD ở Việt Nam đến năm 2020 và dự án Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD ở Việt Nam đến năm 2020, hai dự án này sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng 01/2008; chỉ đạo việc nghiên cứu các phương án công nghệ sử dụng nhiệt thừa để tự phát điện phục vụ cho sản xuất xi măng nhằm giảm chi phí điện năng hạ giá thành sản phẩm kết hợp xử lý môi trường triệt để hơn. Như vậy cho đến thời điểm hiện nay đã có quy hoạch của 09 chuyên ngành sản xuất vật liệu xây dựng.

Về công tác quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng ở các địa phương, đến nay có 23 tỉnh đã hoàn thành việc lập điều chỉnh quy hoạch phát triển VLXD đến năm 2020, 06 tỉnh đang tiến hành lập; còn 15 tỉnh cần phải tiếp tục điều chỉnh các quy hoạch đã được lập trước năm 2000. Hiện nay còn 20 tỉnh chưa lập quy hoạch phát triển VLXD, trong đó có một số tỉnh mới được tách ra, còn lại là các tỉnh ở Đồng bằng Nam Bộ có ít tiềm năng phát triển vật liệu xây dựng.

Về tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng:

Năm 2007, theo quy hoạch đưa 7 nhà máy vào vận hành là XM Sông Thao, XM Yên Bình, XM Thái Nguyên, XM Chinfon - Hải Phòng 2, XM Hoàng Long, XM Sơn Dưông, XM Thanh Liêm với TCSTK là: 2,34 triệu tấn thấp hơn quy hoạch 3,11 triệu tấn.

Bộ Xây dựng đã thường xuyên phối hợp với các nhà đầu tư và chính quyền các địa phương tổ chức giao ban định kỳ, đột xuất nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án. Tiến độ đầu tư các dự án xi măng đã được đẩy nhanh hơn giai đoạn trước đây, đặc biệt là các dự án xi măng lớn về cơ bản đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất là ký kết hợp đồng thiết bị và hợp đồng vay vốn. Thị trường xi măng trong năm 2007 được bình ổn. Sản xuất xi măng trong năm đạt 36 triệu tấn.

Bộ đã tập trung chỉ đạo chương trình cơ khí xi măng, công tác tư vấn đầu tư xi măng tiến tới tổng thầu, tư vấn cung cấp thiết bị, thi công xây lắp và vận hành các dự án xi măng lớn. Phấn đấu đưa ngành công nghiệp xi măng trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn có công nghệ hiện đại, năng suất chất lượng, hiệu quả cao đủ sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.

Bộ đã kết hợp với các hội, hiệp hội nghề nghiệp nghiên cứu, tập hợp lực lượng, thông tin, thông báo tình hình cung - cầu nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh kế hoạch và chiến lược đầu tư cũng như đã đẩy mạnh công tác xuất khẩu. Hiện nay VLXD đã xuất khẩu ra hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có thị trường lớn như Mỹ, Úc, châu Âu, Nhật Bản. Tốc độ tăng trong xuất khẩu năm 2007 là 25,7%.

Đã tập trung chỉ đạo triển khai Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của Chính phủ với nhiệm vụ chính là: Thiết kế công nghệ và chế tạo thiết bị đồng bộ cho nhà máy xi măng có công suất từ 2.500 đến 4.000 tấn clinker/ngày; thiết bị thủy điện có công suất đến 50 MW. Đây là bước đi quan trọng trong việc chủ động sản xuất, cung cấp thiết bị đồng bộ cho các công trình công nghiệp ngành Xây dựng.

Nhìn chung, các ngành sản xuất vật liệu xây dựng ở nước ta đã đủ sức sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cả về số lượng và hầu hết các chủng loại. Đã áp dụng thành công công nghệ nano tạo men chống dính, chống nhiễm khuẩn để sản xuất sứ vệ sinh cao cấp, nghiên cứu sản xuất sơn xây dựng tự rửa sạch, chống nhiễm khuẩn. Nhiều loại vật liệu xây dựng mới có tính năng cao, kích thước lớn cũng đã được đầu tư sản xuất. Công tác thị trường cũng có bước phát triển mới. Đã sử dụng công nghệ thông tin bán hàng qua mạng, xây dựng thị trường ảo, xây dựng các tổ hợp thương mại VLXD lớn đồng bộ để giới thiệu, bán sản phẩm. Đã hình thành diễn đàn Kiến trúc- VLXD- Công nghệ nhằm đưa VLXD gắn với công trình kiến trúc và đời sống xã hội. Thị trường vật liệu xây dựng năm 2007 đã được giữ vững ổn định.

Một số tồn tại:

Vẫn còn một số dự án đầu tư ngoài quy hoạch nhất là trong lĩnh vực gạch ốp lát ceramic, granit, sứ vệ sinh làm cho cung vượt cầu. VLXD cao cấp có giá trị kinh tế lớn, đặc biệt VLXD phục vụ cho các công trình trọng điểm, cao cấp vẫn còn phải nhập ngoại. Công tác xuất khẩu thiếu sự hợp tác, chỉ đạo tập trung, thiếu cơ chế chính sách hỗ trợ nên hiệu quả xuất khẩu còn hạn chế, thậm chí còn tạo ra sự cạnh tranh không cần thiết ở thị trường nước ngoài. Chất lượng VLXD chưa đều, vẫn còn những sản phẩm chất lượng chưa ổn định, chưa tương xứng với công nghệ đã đầu tư. Vẫn còn những nhà sản xuất đưa ra các vật liệu không thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật của các tiêu chuẩn đã ban hành như nhôm thanh định hình, thép tròn xây dựng...

5. Các lĩnh vực công tác khác

5.1. Về khoa học, công nghệ và đào tạo: các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng tiếp tục xây dựng và củng cố hệ thống quản lý chất lượng ở doanh nghiệp trong toàn ngành theo mô hình ISO 9001-2000 và ISO 14001. Đến nay có khoảng 220 doanh nghiệp trong các lĩnh vực: tư vấn thiết kế, thi công xây lắp, cơ khí xây dựng, sản xuất VLXD được cấp chứng chỉ ISO 9001-2000; trong đó có 04 đơn vị được cấp chứng chỉ ISO 14001.

Đã triển khai tổ chức hoạt động nghiên cứu triển khai trên tất cả các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý Ngành. Các đề tài, dự án KHCN đã được cải tiến. Hầu hết các nhiệm vụ KHCN được giao đều xuất phát từ nhu cầu thực tế quản lý Nhà nước và xây dựng phát triển ngành Xây dựng. Trên 75% số đề tài, dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật được nghiệm thu đã tổ chức áp dụng triển khai vào thực tế sản xuất xây dựng. Nhiều đề tài đã đóng góp cho việc xây dựng Luật và chính sách về xây dựng góp phần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của Ngành. Các đề tài, dự án trong lĩnh vực sản xuất vật liệu và cơ khí xây dựng đã góp phần hoàn thiện đổi mới công nghệ sản xuất, thay thế sản phẩm nhập ngoại, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp...

Bộ đã chỉ đạo xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường ngành xây dựng năm 2006; bắt đầu triển khai 3 Chương trình thuộc chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010; đã chỉ đạo triển khai thực hiện QĐ 64/2003/QĐ-TTg về việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của ngành Xây dựng; triển khai Quy hoạch quản lý chất thải rắn và hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước thải 3 vùng kinh tế trọng điểm; chỉ đạo triển khai 02 dự án KHCN cấp nhà nước là dự án xi măng 2.500 tấn clanker/ngày và dự án Nhiệt điện than 300 MW giúp cho các doanh nghiệp trong nước làm chủ được thiết kế chế tạo, nội địa hóa phần lớn các thiết bị (75% khối lượng chế tạo thiết bị và hơn 45% giá trị thiết bị).

Thực hiện Nghị định số 102/2003/NĐ-CP ngày 3/9/2003 của Chính phủ về "Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả", Bộ Xây dựng đã xây dựng Chương trình sử dụng năng lượng, tài nguyên tiết kiệm và hiệu quả trong ngành xây dựng, xây dựng và ban hành được các tiêu chuẩn, văn bản hướng dẫn, tài liệu tuyên truyền về sử dụng tiết kiệm năng lượng, nước sạch và các nguồn tài nguyên trong các hoạt động của ngành Xây dựng.

Trong lĩnh vực đào tạo: Bộ đã tập trung chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010"; xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Ngành Xây dựng năm 2007;

Trong năm 2007, đã tổ chức được 212 lớp đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn với 19.643 lượt/người tham gia ở trong nước và cử đi công tác, học tập ở nước ngoài 150 lượt/người; phê duyệt 07 Chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng là cán bộ quản lý, kỹ thuật, cán bộ công chức cấp xã, phường... Bộ đã chỉ đạo đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hội nhập các chuyên ngành: Kiến trúc công trình, Quy hoạch xây dựng tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh với sự hợp tác của các trường đại học của Vương quốc Anh. Tiến tới đổi mới chương trình đào tạo kĩ sư các chuyên ngành xây dựng, xây dựng chương trình đào tạo kĩ sư quản lý dự án, kĩ sư định giá...

5.2. Về hoạt động thanh tra xây dựng

Trong năm 2007, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác thanh tra chuyên ngành về quản lý xây dựng, trật tự xây dựng, quy hoạch xây dựng và các dự án đầu tư xây dựng.

Thực hiện chương trình kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2007 của ngành Xây dựng; Thanh tra Xây dựng đã tiến hành tổ chức 10 đoàn thanh tra chuyên ngành tại các Bộ, Ngành, địa phương, 02 đoàn thanh tra đột xuất theo yêu cầu của TTCP và tham gia 02 đoàn kiểm tra về CCTTHC tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Qua thanh tra các dự án cho thấy: việc thực hiện trình tự thủ tục đầu tư còn nhiều thiếu sót; về tiến độ thực hiện dự án nói chung chưa được đảm bảo về thời gian; về năng lực, trách nhiệm của các đơn vị tư vấn trong thiết kế, thẩm định, giám sát chưa cao; việc thanh quyết toán các dự án còn chậm. Trong quá trình thanh tra, các Đoàn thanh tra đã có kết luận kiến nghị thu hồi về cho Nhà nước trên 05 tỷ đồng, xử lý xuất toán và loại ra khỏi quyết toán trên 10 tỷ đồng.

Thanh tra các Sở Xây dựng đã thực hiện công tác quản lý trật tự đô thị và xử phạt vi phạm hành chính trong xây dựng với tổng số 2633 vụ; tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đã thu được khoảng 5,4 tỷ đồng; thực hiện thanh tra, kiểm tra lại 247 công trình, dự án và thu hồi trên 2,2 tỷ đồng.

Tổ chức biên chế thanh tra các sở Xây dựng đã có sự thay đổi lớn. Tại 59 tỉnh, thành phố đã thành lập được lực lượng Thanh tra chuyên ngành, một số tỉnh còn lại đã xây dựng đề án trình UBND tỉnh và đang chờ UBND tỉnh phê duyệt để triển khai thực hiện. Tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang thí điểm thành lập Thanh tra xây dựng cấp quận (huyện) và xã (phường).

5.3. Về công tác cải cách hành chính

Đang được tiếp tục triển khai theo Kế hoạch cải cách hành chính của ngành Xây dựng giai đoạn (2006-2010), Bộ Xây dựng đã tập trung chỉ đạo rà soát, sửa đổi các qui định theo hướng đơn giản về thủ tục, thực hiện cơ chế một cửa; ban hành Quy chế về đạo đức nghề nghiệp trong các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ban hành Quy chế làm việc cơ quan Bộ Xây dựng.

Tại các địa phương, công tác này được quan tâm, chú trọng (về trình tự, thủ tục xây dựng, cấp phép xây dựng, cấp chứng chỉ hành nghề); rà soát và xác định lại chức năng, nhiệm vụ của sở Xây dựng theo nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004.

Các Sở đã được UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khai nội dung phân cấp theo tinh thần Nghị quyết 08/2004/NQ-CP của Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các quy định về phân cấp quản lý đầu tư xây dựng, quy hoạch xây dựng của Luật Xây dựng và các văn bản pháp QPPL hướng dẫn thi hành, các Sở đã tham mưu cho tỉnh, thành phố ban hành các văn bản về phân cấp trong xây dựng.

5.4. Về công tác y tế, bảo hộ lao động, tiền lương

Tổ chức triển khai chỉ đạo xây dựng kế hoạch và các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh phòng chống cháy nổ năm 2007 nhân dịp tổ chức Tuần lễ quốc gia an toàn vệ sinh lao động phòng chống cháy nổ năm 2007 vào tháng 4/2007 tại Bình Dương; triển khai Chương trình quốc gia về bảo hộ và an toàn lao động, vệ sinh lao động tại 09 TCTy, Bệnh viện Xây dựng và Trung tâm Kiểm định KTATXD; phối hợp với Công đoàn xây dựng Việt Nam tổ chức kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động cho hơn 500 cán bộ chủ chốt của các Tổng công ty thuộc Ngành; giải quyết chế độ chính sách đối với lao động dôi dư khi sắp xếp, chuyển đổi mô hình quản lý doanh nghiệp mới và quyết toán kinh phí trợ cấp năm 2006 đối với 73 doanh nghiệp;

Mạng lưới y tế, điều dưỡng, phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiệp đã bước đầu được sắp xếp, tổ chức lại, đã chuyển giao TT Điều dưỡng PHCN ngành Xây dựng phía Nam về trực thuộc Bệnh viện Xây dựng.

5.5. Về công tác hợp tác quốc tế

Tập trung vào các hoạt động vận động tài trợ từ các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức cho các dự án của Bộ và các đơn vị thuộc Bộ; hỗ trợ cho các đơn vị thuộc Bộ trong việc thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài; triển khai thực hiện các dự án, chương trình do nước ngoài viện trợ theo đúng nội dung hiệp định và văn kiện đã ký kết: Chương trình chiến lược quốc gia của ADB về các dự án giai đoạn 2007-2010; Chương trình Phát triển đô thị Việt Nam do EC tài trợ; Chương trình Cấp nước và Vệ sinh cho vùng Châu thổ Sông Hồng do Phần Lan tài trợ; Hợp phần Phát triển bền vững môi trường tại các khu đô thị nghèo và Dự án "Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý môi trường đô thị" do Đan Mạch tài trợ; chương trình "quy hoạch môi trường Việt Nam" do EC tài trợ; Chương trình Chiến lược quốc gia ADB về 2 dự án: "Phát triển đô thị vừa và nhỏ khu vực miền Trung" và Dự án "Nước Hà Nội-Sông Đà"...;

Bộ đã tổ chức phổ biến tới các đơn vị về nội dung cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế; chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết 16 của Chính phủ về Chương trình hành động hậu WTO của Việt Nam; xây dựng phương án đàm phán và tham gia đàm phán về việc gia nhập WTO trong lĩnh vực xây dựng.

Điều phối tốt các hoạt động của Ủy ban LCP Việt Nam-Cu Ba, Việt Nam-Li Bi; Việt Nam-Angrêry.

Bộ Xây dựng đã ký Biên bản hợp tác toàn diện với Bộ Giao thông vận tải, Bưu điện và Xây dựng Lào và Bộ Đất đai, Quy hoạch đô thị và Xây dựng Campuchia, mở một giai đoạn hợp tác mới giữa ngành xây dựng ba nước Đông Dương.

Hoạt động của Diễn đàn Đô thị Việt Nam

Diễn đàn đã và đang điều phối sự hỗ trợ của SDC (Thụy Sĩ) và WB cho Bộ trong công tác điều chỉnh Định hướng phát triển đô thị VN tới năm 2020; xây dựng các chương trình, dự án mang tính liên kết vùng và ngành do WB khởi xướng; phối hợp với WB tổ chức thành công hội thảo "Các vấn đề ven đô và đô thị hóa"

5.6. Về thực hành tiết kiệm chống lãng phí

Bám sát những nội dung quy định tại Điều 70, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nhiệm vụ của Chính phủ giao trong chương trình hành động của Chính phủ; nội dung công việc cần triển khai đã được thể hiện qua chương trình hành động của Bộ và qua thực tế hoàn thành, cụ thể:

- Cơ bản hoàn thành việc rà soát, sửa đổi bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật.

- Các công tác quản lý quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật đô thị, quản lý nhà, thanh tra từng bước đã đi vào nề nếp.

- Đối với các đơn vị thuộc Bộ, Ban cán sự Đảng Bộ Xây dựng đã có Kế hoạch số 08-KH/BCSĐ ngày 13/7/2007 gửi các cấp ủy đảng, thủ trưởng cơ quan đơn vị thuộc Bộ để hướng dẫn tổ chức thực hiện việc kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Bộ Xây dựng đã thành lập 5 đoàn kiểm tra để kiểm tra tại 5 đơn vị: TCT Sông Đà; TCT Đầu tư xây dựng cấp thoát nước và môi trường Việt Nam; TCT Licogi; Trường Cao đẳng xây dựng công trình đô thị; Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ ngành Xây dựng.

Qua kiểm tra, các đơn vị đều đã thành lập đoàn kiểm tra và tổ chức tự kiểm tra và coi công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là công việc thường xuyên trong mỗi đơn vị. Qua kiểm tra chưa phát hiện cá nhân, đơn vị nào vi phạm Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Tổng hợp kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2007 trong các đơn vị thuộc Bộ: các đơn vị hành chính sự nghiệp tiết kiệm được 3.578 triệu đồng, các doanh nghiệp tiết kiệm được 18.530 triệu đồng.

5.7. Về công tác chỉ đạo các công trình trọng điểm

Bộ chỉ đạo, tháo gỡ những vướng mắc, tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nhà máy thủy điện Sơn La. Đối với các công trình Nhà Quốc hội, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bộ đã tổ chức 02 cuộc thi phương án kiến trúc và đưa ra lây ý kiến rộng rãi trong nhân dân cả nước. Hiện nay đang chỉ đạo hoàn thiện phương án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

6. Về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp

Bộ Xây dựng chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ nêu cao tính chủ động, từng bước tự chủ như doanh nghiệp, tổ chức triển khai dự toán thu-chi ngân sách nhà nước năm 2007 theo quy định của Luật Ngân sách; tiếp tục giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính năm 2007 cho các cơ quan hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP.

Thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, Bộ đã chỉ đạo chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động các viện nghiên cứu theo hướng tự chủ, đến nay 100% các tổ chức nghiên cứu khoa học đã xây dựng đầy đủ đề án chuyển đổi và bước đầu áp dụng cơ chế đặt hàng trong hoạt động KH&CN, Bộ đã phê duyệt đề án chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự trang trải cho 03 viện là: Viện Nghiên cứu kiến trúc Quốc gia, Viện Khoa học xây dựng, Viện Vật liệu xây dựng.

Giá trị sản xuất kinh doanh các đơn vị thuộc khối Viện trong năm 2007 đạt 278 tỷ đồng (trong đó giá trị tư vấn đạt 184,7 tỷ đồng), bằng 122,5% kế hoạch năm, tăng 25,3 % so với cùng kỳ năm 2006.

Các Viện đã tích cực tập trung vào các đề tài quy mô lớn, giải quyết các nhiệm vụ trọng yếu của Ngành; tập trung giải quyết nghiệm thu các nhiệm vụ KHCN, SNKT. Các tiêu chuẩn ban hành đã được áp dụng ngay vào sản xuất, tiêu dùng phục vụ cho công tác quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm, mang lại hiệu quả cao về kỹ thuật, kinh tế và xã hội.

Các đơn vị sự nghiệp có thu đã triển khai thực hiện quyền tự chủ về biên chế và kinh phí. Tất cả các đơn vị đều đã ban hành quy chế quản lý tài chính và quy chế chi tiêu nội bộ, đồng thời tổ chức thực hiện theo quy chế đạt hiệu quả. Trong năm Bộ đã tổ chức hội nghị với từng khối các đơn vị sự nghiệp, qua hội nghị tất cả các đơn vị sự nghiệp đều đã đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế cần phải tiếp tục chấn chỉnh khắc phục trong việc thực hiện quyền tự chủ theo quy định của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP.

II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ XÂY DỰNG

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Chỉ thị số 01/2007/CT-BXD ngày 16/01/2007 về một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng trong hội nhập kinh tế quốc tế; Chỉ thị số 05/2007/CT-BXD ngày 09/4/2007 về việc tiếp tục nâng cao chất lượng công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Xây dựng giai đoạn 2007-2010; trong đó có nhấn mạnh một số nhiệm vụ, nhóm giải pháp chủ yếu các đơn vị cần triển khai thực hiện.

1. Một số chỉ tiêu đạt được trong năm 2007

- Giá trị sản xuất kinh doanh: đạt 103.153 tỷ đồng, bằng 111,6% kế hoạch năm, tăng trưởng 30% so năm 2006, trong đó:

+ Giá trị xây lắp: đạt 48.118 tỷ đồng, bằng 111% kế hoạch năm, tăng 29% so năm 2006;

+ Sản xuất công nghiệp và vật liệu (kể cả TCT Xi măng Việt Nam) là 31.376 tỷ đồng, bằng 105,3% kế hoạch năm, tăng 23,5% so năm 2006; xi măng toàn Ngành đạt 36,2 triệu tấn, bằng 102% kế hoạch năm, tăng trưởng 13,2% so với năm 2006.

+ Giá trị tư vấn: đạt 1.893 tỷ đồng, bằng 114,5% kế hoạch năm, tăng trưởng 24,2% so với năm 2006.

+ Giá trị SXKD khác: đạt 21.766 tỷ đồng, bằng 123% kế hoạch năm, tăng trưởng 44,3% so với năm 2006.

- Giá trị xuất nhập khẩu: đạt 822,7 triệu USD, trong đó nhập khẩu là 666,2 triệu USD, xuất khẩu là 156,4 triệu USD.

- Về đầu tư phát triển

Tổng số dự án đang triển khai thực hiện của các doanh nghiệp thuộc Bộ là 501 dự án (trong đó có 72 dự án nhóm A, 263 dự án nhóm B, 166 dự án nhóm C) với kế hoạch đầu tư năm 2007 là 29.302 tỷ đồng, thực hiện năm 2007 đạt 29.368 tỷ đồng, đạt 100,2% kế hoạch năm.

Thực hiện đầu tư của doanh nghiệp trong năm 2007 vẫn tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu là: Phát triển nhà, hạ tầng đô thị (gồm 280 dự án với khối lượng đầu tư là 8.258 tỷ), các dự án xi măng (32 dự án với khối lượng đầu tư là 10.742 tỷ đồng); đầu tư vào các nhà máy điện (42 dự án với khối lượng đầu tư là 6.890 tỷ đồng), khu công nghiệp (19 dự án với khối lượng đầu tư là 790 tỷ đồng)...

- Về tình hình tài chính doanh nghiệp

+ Tổng doanh thu đạt 69.079,878 tỷ đồng bằng 125,27% so với năm 2006;

+ Lợi nhuận trước thuế đạt 2.618,334 tỷ đồng bằng 150,2% so với năm 2006;

+ Tỷ suất LN/DT: 3,79% cao hơn 0,63% so với năm 2006.

Nhìn chung, tình hình tài chính các doanh nghiệp đều đã được quan tâm nhằm khắc phục những tồn tại cũ, do vậy số các doanh nghiệp bị lỗ và số lỗ trong từng doanh nghiệp đã giảm dần. Cá biệt trong năm 2007 theo báo cáo nhanh, TCT Miền Trung kinh doanh vẫn bị lỗ.

Khó khăn mà các Tổng công ty cần phải quan tâm là việc xử lý công nợ và khắc phục lỗ lũy kế.

2. Nhận xét, đánh giá chung

2.1. Về sản xuât kinh doanh

Hầu hết các đơn vị đều có mức tăng trưởng so với năm 2006 về giá trị SXKD. Một số đơn vị có mức tăng trưởng cao như TCTy LILAMA (tăng 43,7%), TCTy Đầu tư phát triển nhà và đô thị (tăng 50%), TCTy Sông Đà (tăng 45,7%), TCTy IDICO (tăng 50,1%), Công ty DIC (tăng 51,6%), TCTy Vật liệu xây dựng số 1 (tăng 58%)... Có 01 đơn vị đạt thấp so với chỉ tiêu kế hoạch là: TCT Xây dựng Miền Trung (73,3%).

Nhiều công trình trọng điểm đã được đẩy nhanh tiến độ, nổi bật là: dự án Nhiệt điện Cà Mau do LILAMA làm tổng thầu đã được hoàn thành, chạy thử không tải; thông hầm Thủy điện Buôn Krốp; hợp long cầu Thủ Thiêm; hoàn thành việc ngăn sông Thủy điện Xekacman 3...

Trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm VLXD, đã có kết quả tương đối khả quan so với năm 2006. Mặc dầu giá nguyên liệu, nhiên liệu, vận tải tăng nhưng hầu hết các nhà máy đã phát huy được năng lực thiết kế và sản xuất có hiệu quả. Nhiều sản phẩm cao cấp được nghiên cứu, sản xuất được thị trường chấp nhận và những sản phẩm vật liệu chủ yếu đều đạt mức tăng trưởng như sứ vệ sinh (38,4%), granit (14,9%), ceramic (12,6%), kính xây dựng (16,5%).

Tuy vậy trong sản xuất kinh doanh còn một số hạn chế, yếu kém như:

- Một số Tổng công ty vẫn còn doanh nghiệp thành viên bị lỗ và còn có doanh nghiệp chưa khắc phục được lỗ lũy kế từ các năm trước để lại.

- Công tác xuất nhập khẩu vẫn ở mức thấp nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu lao động và vật liệu xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác tìm kiếm, mở rộng thị trường chưa được các đơn vị quan tâm đúng mức, sức cạnh tranh của hành hóa, dịch vụ còn yếu; khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường đối với lao động có tay nghề cao còn ở mức thấp.

- Năng lực, sức cạnh tranh của các tổ chức tư vấn còn hạn chế chưa đủ khả năng độc lập để đảm nhận tổng thầu tư vấn các công trình lớn, phức tạp. Chất lượng tư vấn lập và quản lý dự án còn thấp. Tính chuyên nghiệp, chuyên môn chưa cao, vừa thiếu lực lượng cán bộ kỹ thuật có trình độ cao, vừa thiếu cán bộ chủ trì dự án, chủ trì kỹ thuật có kinh nghiệm; tiến độ triển khai một số công trình còn chậm.

2.2. Về đầu tư phát triển

Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện tốt việc rà soát các dự án đầu tư. Bên cạnh việc thực hiện chiến lược đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, hình thức đầu tư linh hoạt, nguồn vốn đầu tư đa dạng, các doanh nghiệp đã xác định được lĩnh vực mũi nhọn, địa bàn trọng điểm của mình, bước đầu thực hiện tốt việc tập trung nguồn lực, đầu tư có trọng điểm để nâng cao hiệu quả của công tác đầu tư. Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đã trở lên sôi động tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị trong việc huy động vốn để triển khai các dự án phát triển nhà và đô thị, các dự án khu công nghiệp. Một số dự án có khối lượng thực hiện đầu tư lớn trong năm 2007: TCT Sông Đà (7.315 tỷ đồng), Vinaconex (5.169 tỷ), HUD (2.542 tỷ), TCT Xi măng Việt Nam (3.983 tỷ).

Năm 2007 cũng đánh dấu bước phát triển, hợp tác ở tầm cao mới của các doanh nghiệp ngành Xây dựng Việt Nam với các nước bạn Lào và Campuchia trong lĩnh vực: quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà, phát triển các dự án thủy điện... Các doanh nghiệp trong và ngoài ngành đã cùng hợp tác, góp vốn thành lập 02 Công ty cổ phần để xúc tiến các hoạt động đầu tư tại Lào và Campuchia.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án (nhất là các dự án xi măng) thực hiện đầu tư còn chậm so với tiến độ: Nhà máy Xi măng Sông Thao, Xi măng Cẩm Phả, Yên Bình, Xi măng Long Thọ, Khu đoàn Ngoại giao; Hệ thống cấp nước chuỗi đô thị Sơn Tây-Hòa Lạc-Xuân Mai-Miếu Môn-Hà Nội-Hà Đông...

Các nguyên nhân chủ yếu:

- Các dự án xi măng thường có vốn đầu tư lớn, mục tiêu hoàn thành tập trung vào các năm 2007-2008 vì vậy lượng vốn cần huy động cho ngành xi măng hàng năm là rất lớn, trong khi hầu hết các Chủ đầu tư đều phải vay 100% vốn để đầu tư (trừ Tổng công ty XMVN). Chính vì vậy nhiều dự án xi măng sau khi có quyết định đầu tư thời gian thu xếp cho đủ vốn đầu tư phải kéo dài. Việc bảo lãnh vốn vay ngoại tệ từ các Ngân hàng nước ngoài cũng rất khó khăn đặc biệt là các dự án mà Chủ đầu tư là các Công ty cổ phần.

- Do thay đổi giá cả, tỷ lệ ngoại tệ: nhiều gói thầu cung cấp thiết bị vật tư và dịch vụ kỹ thuật vượt giá ghi trong kế hoạch đấu thầu, gây khó khăn kéo dài thời gian đấu thầu; nhiều dự án phải tăng tổng mức đầu tư.

- Trình độ, năng lực của chủ đầu tư bị hạn chế: phần lớn số cán bộ lãnh đạo các nhà máy xi măng chỉ quen điều hành sản xuất, khi chuyển sang quản lý dự án có nhiều khó  khăn, chưa chủ động linh hoạt trong công việc phải làm của Chủ đầu tư cũng như của Ban QLDA.

- Vướng  mắc trong công tác đền bù giải phóng mặt  bằng, trong công tác khảo sát địa chất công trình và thủ tục cấp mỏ.

3. Công tác sắp xếp đổi mới trong doanh nghiệp nhà nước

Trong năm 2007, Bộ Xây dựng đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện công tác sắp xếp, đổi  mới DNNN theo Quyết định số 1729/QĐ-TTg ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ và văn bản số 1447/VPCP-ĐMDN ngày 20-3-2007 của Văn phòng Chính phủ.

- Đã quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cho 4 đơn vị, phê duyệt phương án cổ phần hóa 08 đợn vị; Quyết định chuyển thành Công ty cổ phần cho 14 đơn vị;

- Quyết định công bố giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở thời điểm bàn giao sang Công ty cổ phần cho 14 đơn vị;

- Tổ chức triển khai cổ phần hóa 01 Công ty mẹ (Công ty DIC. Corp) và 03 Tổng công ty (TCT COMA, TCT Sông Hồng, TCT Xây dựng số 1);

- Tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh Đề án thành lập 03 tập đoàn kinh tế trên cơ sở nòng cốt là các Tổng công ty: Sông Đà, Lắp máy (LILAMA) và HUD để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới;

- Tổ chức thẩm định, phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của 04 Tổng công ty đã có Quyết định chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con (Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng, IDICO, Lilama và Tổng công ty Xây dựng  Hà Nội)

Các Tổng công ty nằm trong kế hoạch cổ phần hóa năm 2007 đều đang trong giai đoạn xác định giá trị doanh nghiệp.

Bộ Xây dựng đã hoàn thành việc bàn giao đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Constrexim Holdings, Vinaconex, Công ty TNHH một thành viên đầu tư và kinh doanh khoáng sản Vinaconex, Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Tràng Tiền sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Sau khi thực hiện cổ phần hóa và các giải pháp sắp xếp, đến nay số đầu mối doanh nghiệp trực thuộc Bộ còn 17 Công ty nhà nước, trong đó có 15 công ty mẹ chuyển đổi từ các TCT và 02 Công ty nhà nước độc lập.

III. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC LAO ĐỘNG, HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN VÀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG NĂM 2007

Ngay từ đầu năm 2007, Bộ Xây dựng, Ban Thường vụ Công đoàn Xây dựng Việt Nam đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành triển khai tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức có hiệu quả phong trào CNVC-LĐ và hoạt động công đoàn.

100% đơn vị trong Ngành đã tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam tới CNVC-LĐ, tổ chức tuyên truyền các ngày lễ trọng đại của đất nước, các sự kiện quan trọng của ngành. Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức các diễn đàn về "Văn hóa doanh nghiệp", chế độ, chính sách, pháp luật, Luật Công đoàn, Luật Xây dựng, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội... Phổ biến về quyền và nghĩa vụ của CNVC-LĐ trong các DNNN thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần, tuyên truyền về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO; Tập huấn Nghị định 87/NĐ-CP, ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ "Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty cổ phần, Công ty TNHH" tại 03 miền cho gần 400 đại biểu là Chủ tịch Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, chủ tịch công đoàn các đơn vị trong ngành. 100% các đơn vị trong ngành tổ chức tốt phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giáo dục pháp luật, phòng chống các tệ nạn xã hội. 100% đơn vị đã triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Công tác tuyên truyền thực sự thiết thực, tiết kiệm, không phô trương hình thức, đảm bảo an toàn, trật tự xã hội, có chiều sâu, hướng về cơ sở, thức đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo động lực cho các phong trào hành động cách mạng. Động viên, khích lệ CNVC-LĐ hăng hái lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Xây dựng, Tổng Liên đoàn, Công đoàn Xây dựng Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Công đoàn Xây dựng Việt Nam (16/3/1957-16/3/2007) và hướng tới kỷ niệm 50 năm, ngày truyền thống ngành Xây dựng 29/4/1958-29/4/2008), Bộ Xây dựng và Ban Thường vụ công đoàn Xây dựng Việt Nam đã tổ chức Liên hoan văn nghệ quần chúng ngành Xây dựng và cuộc thi viết "Tìm hiểu về Công đoàn Xây dựng Việt Nam và Luật Xây dựng". Cuộc thi đã thu hút được đông đảo các đơn vị trong ngành tham gia. Theo  báo cáo của 31 đơn vị đã có 73.490 CNVC-LĐ dự thi. Ban tổ chức cuộc thi đã đề nghị Ban Chấp hành Công đoàn Xây dựng Việt Nam tặng bằng khen và quà cho 16 tập thể, 17 cá nhân có thành tích và bài thi xuất sắc với tổng số tiền là 43 triệu đồng.

Công tác thi đua-khen thưởng được quan tâm. Ngay từ đầu năm, Bộ Xây dựng, Công đoàn Xây dựng Việt Nam đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành xây dựng chương trình, kế hoạch thi đua với nội dung cụ thể, thiết thực, tập trung trên các công trình trọng điểm, các lĩnh vực xã hội quan tâm. Năm 2007, toàn ngành đã phát động được 50 đợt thi đua. Khối hành chính sự nghiệp, cán bộ công chức đã thi đua thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng soạn thảo các văn bản pháp quy, cải cách hành chính, quản lý kinh tế-kỹ thuật ngành, quản lý lực lượng xây dựng, quản lý xây dựng theo quy hoạch. Khối nhà trường đã tổ chức phong trào thi đua tự làm mô hình học cụ, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phục vụ giảng dạy, học tập. Duy trì tốt phong trào thi đua "Dạy tốt-Học tốt". Phong trào thi đua "Lao động giỏi" thu hút được đông đảo CNVC-LĐ các đơn vị tham gia. Phong trào thi đua Liên kết, các chiến dịch thi đua trên các công trình trọng điểm đã được nhiều đơn vị phát huy nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình, đảm bảo các mục tiêu đề ra. 19 công trình đăng ký chào mừng bầu cử Quốc hội khóa XII. 10 công trình đăng ký chào mừng 50 năm, ngày truyền thống ngành Xây dựng. Cuộc vận động "Đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình sản phẩm xây dựng giai đoạn 2006-2010", cuộc vận động "Đảm bảo và nâng cao điều kiện sống, làm việc của CNVC-LĐ  ngành Xây dựng", các phong trào: "Xanh-sạch-đẹp và đảm bảo an toàn lao động, phòng chống cháy nổ", phong trào "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" tiếp tục được duy trì và đạt hiệu quả. Đội tuyển "An toàn vệ sinh viên giỏi" ngành Xây dựng tham gia Hội thi an toàn viên giỏi toàn quốc lần thứ III đã đạt giải ba và là một trong số 06 đội tuyển đạt giải thứ hạng trên tổng số 16 đội tham gia dự thi. 05 đơn vị được tặng thưởng cờ "Đơn vị đạt công trình, sản phẩm đạt chất lượng cao, 64 công trình, sản phẩm được tặng huy chương vàng, 13 công trình được tặng bằng chất lượng cao, 10 đơn vị, 51 cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Xây dựng-Ban Thường vụ Công đoàn Xây dựng Việt Nam. Tổ chức Hội nghị biểu dương gia đình nữ CNVC-LĐ tiêu biểu xuất sắc 5 năm 2002-2007. Ghi nhận thành tích của các tập thể, cá nhân trong phong trào CNVC-LĐ và hoạt động công đoàn năm 2007, Ban Thường vụ Công đoàn Xây dựng Việt Nam tặng cờ cho 100 đơn vị, gần 2000 bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào CNVC và hoạt động công đoàn năm 2007.

Năm 2007, có 03 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, 08 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 1134 cá nhân được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua Ngành, 20 tập thể được tặng Cờ thi đua của Chính phủ. 105 tập thể được tạng Cờ thi đua Bộ, 12 tập thể và 68 cá nhân được tặng huân chương các loại, 12 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Bằng khen của Chính phủ, tặng kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Xây dựng" cho 2700 cá nhân, 2970 tập thể, cá nhân được tặng Bằng khen của Bộ, 1546 tập thể được công nhận là tập thể lao động xuất sắc.

Phần 2

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH NĂM 2008

Năm 2008 là năm bản lề của Kế hoạch 5 năm 2006-2010, với chỉ tiêu tăng trưởng được Quốc hội thông qua là 9%, với quyết tâm của Chính phủ là phấn đấu hoàn thành một số chỉ tiêu kế hoạch 5 năm ngay trong năm 2008. Năm 2008 còn là năm Kỷ niệm lần thứ 50, thành lập ngành Xây dựng Việt Nam (29/4/2958), phát huy những thành tựu đã đạt được, toàn Ngành đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước ngay từ ngày đầu, tháng đầu năm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2008, với những  nội dung chủ yếu sau đây:

I. VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thành Chương trình xây dựng văn bản QPPL năm 2008, bảo đảm tiến độ; trong đó tập trung chỉ đạo nghiên cứu soạn thảo Dự án Luật Quy hoạch đô thị; Luật Hạ tầng kỹ thuật đô thị...

Tập trung rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực quản lý của ngành, đảm bảo đồng bộ, không chồng chéo, không gây phiền hà cho dân nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục đầu tư xây dựng, về cấp phép, về quy hoạch xây dựng và thiết kế đô thị theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ. Tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng các cuộc giao lưu trực tuyến với các Sở địa phương. Đẩy mạnh tập huấn các Quy chuẩn, Tiêu chuẩn mới ban hành.

2. Về phát triển đô thị và nhà ở

Tiếp tục tổ chức thực hiện các Định hướng phát triển đô thị đến năm 2020, nhằm thực hiện sắp xếp lại hệ thống đô thị trên địa bàn cả nước. Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác lập quy hoạch xây dựng vùng, hoàn thành dứt điểm các quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Duyên hải vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Biên giới Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia. Xây dựng trình Chính phủ Đề án Chung sống an toàn với lũ lụt của các tỉnh ven biển miền Trung.

Thực hiện Định hướng phát triển cấp nước đô thị và Định hướng phát triển thaót nước đô thị Việt Nam đến năm 2020, tập trung chỉ đạo hoàn thiện hệ thống cấp nước sinh hoạt, cung cấp nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp, giải quyết các vấn đề bức xúc về thoát nước và xử lý chất thải ở các đô thị. Tổ chức triển khai Đề án xử lý chất thải rắn, chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại bằng công nghệ trong nước, tạo tiền đề hình thành các trung tâm xử lý chất thải rắn ở các địa phương.

Năm 2008, phấn đấu đạt chỉ tiêu 85% dân cư đô thị, 75% dân cư ở nông thôn được cấp nước sạch, bình quân 100 lít/người/ngày đêm.

Tập trung thực hiện Chương trình phát triển nhà ở đến năm 2020. Phát triển nhà ở gắn với phát triển các khu đô thị mới nhằm hình thành đồng bộ các khu nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu của các đối tượng dân cư có mức thu nhập khác nhau trên từng địa bàn. Phát triển thị trường bất động sản trên cơ sở thực hiện Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Xây dựng hệ thống đăng ký, thông tin bất động sản. Thự hiện Đề án cho Việt kiều và người nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam.

Năm 2008, phấn đấu đạt từ 30 đến 32 triệu m² sàn nhà ở, nâng diện tích bình quân lên trên 12m² sàn/người đạt chỉ tiêu mà Nghị quyết của kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI đã thông qua.

3. Về quản lý và phát triển xây dựng

Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách để quản lý và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, dịch vụ công nâng cao năng lực và có cơ hội tham gia thực hiện các dự án, công trình xây dựng có quy mô lớn, phức tạp trong nước và ngoài nước.

Quan tâm đầu tư vào trang thiết bị tiên tiến, nhanh chóng tiếp cận, đổi mới và làm chủ công nghệ xây dựng hiện đại trong thi công xây lắp. Tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, công tác an toàn trong xây dựng.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác cấp phép xây dựng và tăng cường quản lý trật tự xây dựng; sửa đổi, bổ sung các quy định của địa phương về công tác quy hoạch xây dựng và quản lý xây dựng theo quy hoạch, về công tác cấp phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng theo hướng tiếp tục cải cách hành chính; kiểm tra việc thực hiện công khai các thủ tục hành chính tại các cơ quan cấp dưới có liên quan.

Tập trung tổ chức triển khai Đề án đổi mới cơ chế quản lý về kinh tế xây dựng nhằm giúp các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng có sự chủ động, bình đẳng trong hoạt động xây dựng; làm rõ quan hệ giữa chủ đầu tư-nhà tư vấn-nhà thầu (OPC) để có hướng xử lý với từng chủ thể.

3. Về phát triển VLXD

Năm 2008, hoàn thành việc Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng đến năm 2010.

Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên vật liệu xây dựng. Tiếp tục thực hiện Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng đến năm 2020, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy xi măng; năm 2008 phấn đấu sản xuất xi măng đạt trên 40 triệu tấn. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số cơ chế khuyến khích đầu tư đối với sản phẩm công nghiệp xi măng.

Tập trung chỉ đạo chương trình cơ khí, lựa chọn và đầu tư vào các thiết bị công nghệ hiện đại với mức độ tự động hóa cao nhằm chế tạo một số thiết bị, sản phẩm cơ khí và phụ tùng thiết bị xây dựng quan trọng, thay thế các sản phẩm nhập ngoại như: các thiết bị nhiệt điện, thủy điện có công suất trung bình đến 50MW, dây chuyền xi măng 2500 tấn/ngày, dây chuyền VLXD, tháng máy, thang cuốn, cần cẩu, máy xúc, máy ủi...

4. Về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp:

- Tiếp tục việc sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Hình thành một số Tập đoàn mạnh trong các lĩnh vực chủ yếu như công nghiệp xây dựng, công nghiệp xi măng, phát triển đô thị và bất động sản... đủ năng lực để cạnh tranh với các doanh nghiệp, nhà thầu nước ngoài trong việc thực hiện các dự án lớn đồng thời có khả năng vươn ra nhận thầu các công trình lớn ở nước ngoài.

- Tăng cường năng lực mặt tài chính, trang thiết bị, thiết lập hệ thống quản lý chất lượng trong từng đơn vị, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

II. VỀ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ

Căn cứ nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2008 đã được Quốc hội thông qua, trên cơ sở kết quả thực hiện năm 2007 của các doanh nghiệp thuộc Bộ, chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu đặt ra cho năm 2008 như sau:

1. Kế hoạch sản xuất kinh doanh

- Giá trị SXKD: 121.732.814 triệu đồng, tăng trưởng 18% so với năm 2007 (trong đó xây lắp: 59.071.388 triệu đồng, tăng trưởng 22,8% so với năm 2007; SXVLXD: 35.312.998 triệu đồng, tăng trưởng 12,5% so với năm 2007; tư vấn: 2.020.078 triệu đồng, tăng trưởng 6,7% so với năm 2007; sản lượng xi măng phấn đấu đạt trên 40 triệu tấn, tăng 10,4% so với thực hiện năm 2007)

- Xuất, nhập khẩu: 1.069 triệu USD, trong đó xuất khẩu là 222 triệu USD tăng trưởng 42,1% so với năm 2007.

2. Kế hoạch đầu tư phát triển

- Kế hoạch đầu tư của các doanh nghiệp: phấn đấu đạt là 46.893 tỷ đồng, đầu tư cho 577 dự án (trong đó, khởi công mới 274 dự án, chuyển tiếp 205 dự án, hoàn thành 98 dự án). Các lĩnh vực đầu tư chính trong năm 2008 vẫn tập trung chủ yếu cho các dự án đầu tư về xi măng (30 dự án, 18.217 tỷ đồng), phát triển nhà, hạ tầng đô thị (297 dự án, 14.006 tỷ đồng); Nhà máy điện (35 dự án, 11.685 tỷ đồng); thiết bị thi công (27 dự án, 73 tỷ đồng); phân theo nguồn vốn: tín dụng ĐTPT là 2.937 tỷ đồng; tín dụng thương mại 21.357 tỷ đồng; vốn tự có: 9.367 tỷ đồng; nguồn vốn khác: 6.113 tỷ đồng).

III. MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI NHIỆM VỤ NĂM 2008

Bộ Xây dựng xác định một số nhóm giải pháp chủ yếu, được coi là khâu then chốt, quyết định đến việc tổ chức thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các nhiệm vụ năm 2008 của ngành trên phạm vi cả nước:

Một là, Tiếp tục triển khai đồng bộ, rộng rãi đến các ngành, các địa phương Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, hệ thống quy chuẩn tiêu chuẩn xây dựng, định mức kinh tế-kỹ thuật xây dựng. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về ngành Xây dựng trong nhân dân. Tăng cường kiểm tra, rà soát, nhất là chất lượng công trình xây dựng; thực hành tiết kiệm chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong đầu tư xây dựng.

Hai là, Đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch xây dựng, tăng cường quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị.

Ba là, Triển khai tổ chức quản lý ngành Xây dựng trong cả nước phù hợp với chức năng mới, đặc biệt quan tâm đến hệ thống tổ chức và lực lượng quản lý xây dựng cấp quận, huyện và xã, phường; hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng của các ngành, địa phương và các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng; hệ thống tư vấn quy hoạch xây dựng; hệ thống kiểm định chất lượng xây dựng; hệ thống Thanh tra chuyên ngành xây dựng.

Bốn là, Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong toàn ngành từ Bộ đến các Sở, các doanh nghiệp, đơn vị; chống mọi biểu hiện phiền hà, xách nhiễu dân.

Năm là,  Chú trọng phát triển lực lượng xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Xây dựng và toàn xã hội. Tạo lập thị trường khoa học công nghệ xây dựng, nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng.

Sáu là, Tăng cường công tác tiếp thị, thông tin thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp. Tăng cường công tác thông tin khoa học công nghệ, các kiến thức về kinh tế, thị trường quốc tế. Đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp để lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp.

Bảy là, Đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp để lành mạnh hóa tài chính, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thực hiện triệt để việc chuyển đổi hoạt động của các Tổng công ty sang mô hình Công ty mẹ-Công ty con; kiện toàn tổ chức, cán bộ, xây dựng mới Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Công ty mẹ. Xây dựng và ban hành Quy chế hoạt động của người đại diện phần vốn nhà nước ở các công ty cổ phần để gắn trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi của họ với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch nêu trên, trong năm 2008, toàn thể cán bộ, công nhân viên chức ngành Xây dựng sẽ nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao phù hợp với tiến trình phát triển chung của đất nước trong giai đoạn mới: "Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng; kiến trúc, quy hoạch xây dựng; phát triển đô thị; nhà ở và công sở; kinh doanh bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành theo quy định của pháp luật:.

Trên đây là Báo cáo kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ năm 2007 và các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2008 của ngành Xây dựng, Bộ đề nghị các Sở quản lý Ngành tại địa phương, các đơn vị thuộc Bộ quán triệt, thảo luận, bàn bạc thống nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2008./.

BỘ XÂY DỰNG

* File đính kèm

In bài
Các tin khác
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thương mại-dịch vụ tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 9 và tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình điều hành bình ổn thị trường trong nước và xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2008
Báo cáo về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá tháng 8/2008
Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát 8 tháng đầu năm
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tháng 8 năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 7 và tình hình KT-XH 7 tháng năm 2008
Tình hình điều hành kinh tế vĩ mô tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008, các giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2008 và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2008
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008
Tổng hợp tình hình Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008 của Văn phòng Chính phủ
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng Thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.