Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008


Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008:
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
06/09/2010 15:06:00

Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008

------------

Kinh tế-xã hội nước ta trong 11 tháng của năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; lạm phát tăng cao, thiên tai, dịch bệnh trong nước liên tiếp xảy ra gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống dân cư. Tuy nhiên, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo kịp thời và quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững nên kinh tế-xã hội nước ta trong 11 tháng qua nhìn chung ổn định, kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của từng ngành và lĩnh vực như sau:

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/11/2008, cả nước đã thu hoạch được 1434,9 nghìn ha lúa mùa, bằng 102,8% cùng kỳ năm 2007, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1134,3 nghìn ha, chiếm 94,3% diện tích gieo cấy và bằng 101,3%; các địa phương phía Nam thu hoạch 300,6 nghìn ha, bằng 109%.

Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa mùa của các địa phương phía Bắc đạt 47,6 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt 5,7 triệu tấn, giảm 60 nghìn tấn, chủ yếu do ảnh hưởng của sâu bệnh và mưa, bão. Mưa lớn đầu tháng 11 đã làm 51 nghìn ha lúa mùa bị ngập úng, trong đó Nam Định ngập 20 nghìn ha; Ninh Bình 6,5 nghìn ha; Nghệ An 8,5 nghìn ha; Bắc Giang 7 nghìn ha. Năng suất lúa mùa của các địa phương phía Nam ước tính đạt 39,6 tạ/ha, tăng 2,8 tạ/ha, tuy nhiên năng suất của một số tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ giảm nhiều do ảnh hưởng của mưa, lũ như: Ninh Thuận giảm 2,5 tạ/ha; Quảng Ngãi giảm 3,1tạ/ha. Tính chung năng suất lúa mùa cả nước năm 2008 ước tính đạt 44,4 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với vụ mùa năm 2007; sản lượng đạt 8,9 triệu tấn, giảm 130 nghìn tấn.

 Tính đến trung tuần tháng 11 năm 2008, diện tích gieo trồng cây vụ đông của các địa phương phía Bắc đạt 335,7 nghìn ha, bằng 71,4% cùng kỳ năm trước, do mưa lũ đã làm 203 nghìn ha cây vụ đông ngập nặng, trong đó 130 nghìn ha bị mất trắng (Hà Nội ngập 55,9 nghìn ha, Hà Nam 18,5 nghìn ha, Hưng Yên 11 nghìn ha, Vĩnh Phúc 19,1 nghìn ha). Diện tích gieo trồng ngô đạt 139,2 nghìn ha, bằng 76%; khoai lang 48,9 nghìn ha, bằng 75%; đậu tương 44 nghìn ha, bằng 63,5%; lạc 7,1 nghìn ha, bằng 72,4%; rau đậu 95 nghìn ha, bằng 67,3%.

Chăn nuôi bị ảnh hưởng của giá thức ăn tăng cao trong năm và dịch bệnh nên tốc độ phát triển chậm. Theo kết quả điều tra, tại thời điểm 01/10/2008, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 6,4 triệu con, giảm 4,7%; đàn lợn 26,7 triệu con, tăng 0,5%; đàn gia cầm bước đầu được khôi phục với tổng đàn tăng 11,6%. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn đang được các địa phương thực hiện tích cực. Tính đến ngày 23/11/2008, cả nước còn 4 tỉnh có dịch lở mồm long móng là Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình; Nghệ An có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung tháng 11/2008 ước tính đạt 17,3 nghìn ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán 8,5 triệu cây, bằng cùng kỳ năm 2007; sản lượng gỗ khai thác 352,8 nghìn m3, tăng 13,6%. Tính chung 11 tháng năm 2008, diện tích rừng trồng tập trung đạt 183,7 nghìn ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán 180,5 triệu cây, bằng 99,7%; sản lượng gỗ khai thác 3113,7 nghìn m3, tăng 5,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 11 tháng năm nay là 2683,4 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 1129,3 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 11/2008 ước tính đạt 408,9 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 236 nghìn tấn, tăng 5,4%; sản lượng khai thác đạt 172,9 nghìn tấn, tăng 0,8%.

Nuôi trồng thuỷ sản tăng chậm chủ yếu do giá thu mua cá tra thấp nên tiêu thụ gặp khó khăn, ngoài ra một số diện tích nuôi tôm sú bị dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch. Khai thác thủy sản nhìn chung ổn định, thời tiết đang vào mùa cá nổi; giá xăng, dầu giảm đã khuyến khích ngư dân tích cực bám biển.

Tính chung 11 tháng năm 2008, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 4208,7 nghìn tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2289 nghìn tấn, tăng 17,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1919,7 nghìn tấn, tăng 0,6%.

Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong nước tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến nhiều nền kinh tế suy giảm. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11/2008 ước tính tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 6,9%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 18,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18% (dầu mỏ và khí đốt giảm 5,4%; các ngành khác tăng 20,5%).

Tính chung 11 tháng năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 5,6% (Trung ương quản lý tăng 7,8%; địa phương quản lý giảm 1,5%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1% (dầu mỏ và khí đốt giảm 8%; các ngành khác tăng 20,9%).

Một số tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp lớn vẫn duy trì được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm 2007 là: Vĩnh Phúc tăng 24%; Bình Dương tăng 21,8%; Đồng Nai tăng 20,9%; Hải Phòng tăng 18,3%; Cần Thơ tăng 17,4%; Thanh Hóa tăng 17%. Tuy nhiên, nhiều tỉnh, thành phố lớn khác đạt mức tăng thấp hoặc giảm như: Phú Thọ tăng 15,1%; Hải Dương tăng 14,7%; Quảng Ninh tăng 14%; Hà Nội tăng 12,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,2%; Đà Nẵng tăng 8,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 2,9%.

Sản xuất một số sản phẩm thiết yếu nhìn chung vẫn duy trì được tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành: Xe tải tăng 51,7%; xe chở khách tăng 43,3%; quần áo người lớn tăng 33,2%; thủy hải sản chế biến tăng 32,4%; máy giặt tăng 32,3%; sữa bột tăng 27%; biến thế điện tăng 26,7%; tủ lạnh, tủ đá tăng 24,6%; ti vi tăng 18,8%. Tuy nhiên, sản lượng nhiều loại sản phẩm quan trọng khác chỉ tăng ở mức thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 11,6%; xi măng tăng 10,1%; đường tăng 8,6%; xe máy tăng 5,8%; giấy, bìa tăng 5,7%; phân hoá học tăng 3,1%; điều hòa nhiệt độ tăng 1,9%; sơn hoá học tăng 0,8%; vải dệt từ sợi bông giảm 0,6%; than đá giảm 3,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp giảm 3,3%; kính thuỷ tinh giảm 5,8%; dầu thô khai thác giảm 7,1%; thép tròn giảm 11,2%.

Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 11/2008 ước tính đạt 12,6 nghìn tỷ đồng, bao gồm vốn Trung ương đạt 3,6 nghìn tỷ đồng; vốn địa phương đạt 9 nghìn tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện 88,3 nghìn tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch năm, bao gồm vốn Trung ương 27,8 nghìn tỷ đồng, đạt 83,8%; vốn địa phương 60,5 nghìn tỷ đồng, đạt 93,1%.

Tiến độ thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2008 của một số Bộ, ngành như sau: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước tính 2139 tỷ đồng, đạt 128,3% kế hoạch năm; Bộ Giao thông vận tải 5652,9 tỷ đồng, đạt 90%; Bộ Công thương 212,3 tỷ đồng, đạt 89,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 984,2 tỷ đồng, đạt 87,8%; Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch 381,3 tỷ đồng, đạt 86,5%; Bộ Y tế 803,6 tỷ đồng, đạt 86,2%; Bộ Xây dựng 119,5 tỷ đồng, chỉ đạt 34%. Một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Thái Nguyên 745,7 tỷ đồng, đạt 117,4% kế hoạch năm; Lâm Đồng 907 tỷ đồng, đạt 115%; Lai Châu 1097,1 tỷ đồng, đạt 109,3%; Yên Bái 633,9 tỷ đồng, đạt 108,3%; Quảng Trị 819,2 tỷ đồng, đạt 106%; Ninh Thuận 549,7 tỷ đồng, đạt 104,3%; Thừa Thiên-Huế 910 tỷ đồng, đạt 100,5%.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục tăng cao, tháng 11/2008 cả nước có 106 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký 726 triệu USD, nâng tổng số dự án cấp mới từ đầu năm đến 20/11/2008 lên 1059 dự án với tổng vốn đăng ký 59 tỷ USD, giảm 17,5% về số dự án nhưng tăng 252,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính thêm 1,1 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 272 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước thì 11 tháng năm nay cả nước đã thu hút được 60,1 tỷ USD từ các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tăng 211,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện trong 11 tháng năm của 2008 ước tính đạt 10,1 tỷ USD, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm 2007.

Các dự án được cấp phép trong 11 tháng năm nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng gồm 537 dự án với 32,5 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 50,7% tổng số dự án và chiếm 55,1% tổng vốn đăng ký; dịch vụ có 480 dự án với 26,3 tỷ USD, chiếm 45,3% tổng số dự án và chiếm 44,5% tổng vốn đăng ký; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 42 dự án với 247,1 triệu USD, chiếm 4% tổng số dự án và chiếm 0,4% tổng vốn đăng ký.

Trong số 44 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép trong 11 tháng của năm 2008, Ninh Thuận dẫn đầu với 9,8 tỷ USD, chiếm 16,6% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Bà Rịa-Vũng Tàu 9,3 tỷ USD, chiếm 15,8%; thành phố Hồ Chí Minh 8,3 tỷ USD, chiếm 14,1%; Hà Tĩnh 7,9 tỷ USD, chiếm 13,4%; Thanh Hóa 6,2 tỷ USD, chiếm 10,5%; Phú Yên 4,3 tỷ USD, chiếm 7,4%; Hà Nội 2,9 tỷ USD, chiếm 4,9%.

Trong số 44 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam trong 11 tháng qua, Ma-lai-xi-a dẫn đầu với 14,9 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Đài Loan 8,6 tỷ USD, chiếm 14,6%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, chiếm 12,3%; Bru-nây 4,4 tỷ USD, chiếm 7,4%; Ca-na-đa 4,2 tỷ USD, chiếm 7,2%; Xin-ga-po 4 tỷ USD, chiếm 6,9%; Thái Lan gần 4 tỷ USD, chiếm 6,7%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 3,7 tỷ USD, chiếm 6,4%; Síp 2,2 tỷ USD, chiếm 3,7%; Hàn Quốc 1,5 tỷ USD, chiếm 2,6%; Hoa Kỳ 1,4 tỷ USD, chiếm 2,3%.

Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Thị trường hàng hoá trong nước nhìn chung ổn định, tuy giá cả nhiều mặt hàng đã giảm nhưng nhu cầu tiêu dùng của dân cư có xu hướng tăng chậm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2008 ước tính đạt 89,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng của năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 872,6 nghìn tỷ đồng, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó thương nghiệp đạt 719,8 nghìn tỷ đồng, tăng 31,6%; khách sạn, nhà hàng đạt 98,4 nghìn tỷ đồng, tăng 25,5%; dịch vụ đạt 43,2 nghìn tỷ đồng, tăng 29,5%; du lịch 11,1 nghìn tỷ đồng, tăng 44,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm nay chỉ tăng 6,2% so với  cùng kỳ năm trước.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 11/2008 giảm 0,76% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu một mặt do giá của các mặt hàng đã đứng ở mức cao; nhu cầu tiêu dùng giảm, lượng tồn kho của một số mặt hàng nhiều; giá một số mặt hàng trên thế giới giảm, đặc biệt giá dầu thô giảm mạnh đã tác động đến giá tiêu dùng trong nước; mặt khác do 8 nhóm giải pháp của Chính phủ tiếp tục phát huy tác dụng. Trong các nhóm hàng hoá và dịch vụ có giá giảm so với tháng trước, giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm nhiều nhất với 4,86%; tiếp đến là nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 4,4%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nhẹ ở mức 0,07% (lương thực giảm 3,1%, thực phẩm tăng 0,91%). Giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng nhẹ ở mức dưới 1%: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,9%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,67%; dược phẩm, y tế tăng 0,28%; giáo dục tăng 0,12%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,28%. So với cùng kỳ năm trước, giá tiêu dùng tháng 11/2008 tăng 24,22%; so với tháng 12/2007, giá tiêu dùng tháng 11/2008 tăng 20,71%. Giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2008 so với 11 tháng năm 2007 tăng 23,25%

Giá vàng tháng 11/2008 giảm 5,8% so với tháng trước, tăng 6,01% so với tháng 12 năm 2007 và tăng 8,26% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la Mỹ tăng 2,1% so với tháng trước, tăng 5,11% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2007.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2008 ước tính đạt 4,8 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 4,8% so với tháng trước chủ yếu do giá một số mặt hàng xuất khẩu giảm, trong đó giá dầu thô giảm 29%; giá gạo giảm 10%; giá than đá giảm 7%. Tính chung 11 tháng năm 2008, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 58,5 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 26,1 tỷ USD, tăng 40,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt gần 22,5 tỷ USD, tăng 28,6%; dầu thô đạt 9,9 tỷ USD, tăng 30,9%.

Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng trong 11 tháng của năm 2008 đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục duy trì mức tăng cao như: Dầu thô đạt 9,9 tỷ USD, tăng 30,9%; dệt may đạt 8,4 tỷ USD, tăng 19,1%; thủy sản đạt 4,3 tỷ USD, tăng 24,8%; giày dép đạt 4,2 tỷ USD, tăng 18,3%; gạo đạt 2,7 tỷ USD, tăng 89,1%; hàng điện tử, máy tính đạt 2,5 tỷ USD, tăng 29,5%; than đá đạt 1,4 tỷ USD, tăng 50,5%. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong thời gian tới, do đó cần đẩy mạnh khai thác, mở rộng thị trường nhằm kích thích sản xuất trong nước phát triển. Đặc biệt chú trọng đến một số thị trường tuy chưa đạt kim ngạch lớn nhưng có tốc độ tăng cao như: Nga, Ucraina (hàng thuỷ sản), Châu Phi (gạo); đồng thời nâng cao chất lượng hàng hoá để tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.      

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2008 ước tính đạt 5,3 tỷ USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 7,1% so với tháng 10/2008 chủ yếu do kim ngạch một số mặt hàng chủ yếu giảm nhiều (Xăng dầu giảm 12% do giá giảm 21,4%; máy móc, thiết bị giảm 8,5%; vải giảm 7,5%; chất dẻo giảm 10,2%; sắt, thép giảm 5,2%). Tính chung 11 tháng của năm 2008, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 75,4 tỷ USD, tăng 38,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 48,9 tỷ USD, tăng 40%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 26,5 tỷ USD, tăng 35,6%.

Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu trong 11 tháng qua của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá nhập khẩu tăng, trong đó giá một số mặt hàng tăng ở mức cao như: Giá phân bón tăng 94,2%; giá xăng dầu tăng 53,5%; giá phôi thép tăng 45,8%. Trong tổng kim ngạch nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,6 tỷ USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu đạt 10,6 tỷ USD, tăng 58,3%; sắt thép đạt 6,4 tỷ USD, tăng 46,3%; vải đạt 4,2 tỷ USD, tăng 15%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,4 tỷ USD, tăng 28,1%; nguyên phụ liệu dệt, may, da đạt 2,2 tỷ USD, tăng 13,3%; phân bón đạt 1,5 tỷ USD, tăng 69,7%.

Nhập siêu hàng hóa tháng 11/2008 ước tính 500 triệu USD, bằng 10,4% kim ngạch xuất khẩu và thấp hơn mức 662 triệu USD của tháng 10/2008. Tính chung 11 tháng năm 2008, nhập siêu hàng hoá 16,9 tỷ USD, bằng 28,8% kim ngạch xuất khẩu.

Vận tải

Vận chuyển hành khách trong 11 tháng của năm 2008 ước tính đạt 1760,7 triệu lượt khách và 74,7 tỷ lượt khách.km, tăng 8,2% về lượt khách và tăng 7,7% về lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước, bao gồm vận tải Trung ương đạt 34 triệu lượt khách và 20,5 tỷ lượt khách.km, tăng 15% về lượt khách và tăng 10,1% về lượt khách.km; vận tải địa phương đạt 1726,7 triệu lượt khách và 54,2 tỷ lượt khách.km, tăng 7,9% về lượt khách và tăng 6,8% về lượt khách.km.

Trong các ngành vận tải, ngành đường bộ vận chuyển được 1588 triệu lượt khách và 52,4 tỷ lượt khách.km, tăng 9% về lượt khách và tăng 8,2% về lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 147,4 triệu lượt khách và 3 tỷ lượt khách.km, tăng 1,3% và tăng 2,1%; đường sắt đạt 10,3 triệu lượt khách và 4 tỷ lượt khách.km, giảm 2,7% và giảm 4,6%; đường hàng không đạt 9,5 triệu lượt khách và 15 tỷ lượt khách.km, tăng 12,5% và tăng 11%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong 11 tháng của năm 2008 ước tính đạt 552,8 triệu tấn và 158,5 tỷ tấn.km, tăng 9,2% về tấn và tăng 40,3% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2007; bao gồm vận tải đường bộ đạt 397,3 triệu tấn và 20,5 tỷ tấn.km, tăng 10,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 13,9% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 100,4 triệu tấn và 5,1 tỷ tấn.km, tăng 1,5% và tăng 1,1%; đường biển đạt 47,2 triệu tấn và 128,7 tỷ tấn.km, tăng 23,1% và tăng 49,6%; đường sắt 7,9 triệu tấn và 3,8 tỷ tấn.km, giảm 4,8% và tăng 8,1%.

Du lịch

Khách quốc tế đến Việt Nam trong 11 tháng của năm 2008 ước tính đạt 3,9 triệu lượt người, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến du lịch đạt 2,4 triệu lượt người, tăng 1%; đến vì công việc 777,5 nghìn lượt người, tăng 31,3%; thăm thân nhân đạt 461,4 nghìn lượt người, giảm 16,6%. Khách quốc tế đến bằng đường hàng không đạt 3 triệu lượt người, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước; đường bộ 742,3 nghìn lượt người tăng 18,3%; đường biển 143,2 nghìn lượt người giảm 30,9%.

Một số quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp tục có lượng khách đến Việt Nam tăng cao là: Trung Quốc 590,9 nghìn lượt người, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước; Thái Lan 169 nghìn lượt người, tăng 14%; Xin-ga-po 136,9 nghìn lượt người, tăng 14,3%; Ma-lai-xi-a 154,1 nghìn lượt người, tăng 13,5%. Tuy nhiên, một số nước tuy có lượng khách đến nước ta lớn nhưng giảm so với cùng kỳ năm 2007 như: Hàn Quốc 416,5 nghìn lượt người, giảm 3,5%; Nhật Bản 358,2 nghìn lượt người, giảm 5,9%; Đài Loan 281,7 nghìn lượt người, giảm 3,1%.

Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển tháng 11 năm 2008 ước tính đạt 2,8 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao trong 11 tháng của năm 2008 lên 23,6 triệu thuê bao, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2007. Tính đến cuối tháng 11/2008, ước tính cả nước có 75,5 triệu thuê bao điện thoại, trong đó Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 43 triệu thuê bao (10,3 triệu thuê bao điện thoại cố định và 32,7 triệu thuê bao điện thoại di động).

Số thuê bao internet phát triển tháng 11 ước tính đạt 139,3 nghìn thuê bao, tính chung trong 11 tháng của năm 2008 đạt 1349,5 nghìn thuê bao, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số thuê bao internet đến cuối tháng 11/2008 lên 6,6 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 3,8 triệu thuê bao. Số người sử dụng internet đến cuối tháng 11/2008 ước tính 20,7 triệu người. Doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 11 tháng ước tính đạt 61 nghìn tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước (riêng Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 43,9 nghìn tỷ đồng), trong đó doanh thu viễn thông đạt 40,3 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3%; doanh thu bưu chính 1,8 nghìn tỷ đồng, tăng 33,2%.

Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/11/2008 ước tính đạt 111,1% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 104,7%; thu từ dầu thô đạt 108,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 131,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 102,3%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 95,8%; thu thuế công, thương nghiệp ngoài Nhà nước đạt 98,8%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 129,1%; thu phí xăng dầu đạt 82,7%; thu phí, lệ phí đạt 92,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2008 ước tính đạt 95,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 82,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 79,1%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) đạt 96,4%; chi trả nợ và viện trợ đạt 89,3%.

Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tính từ đầu năm đến thời điểm 21/11/2008 cả nước có 929,4 nghìn lượt hộ thiếu đói và 3897,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. So với cùng kỳ năm 2007, số lượt hộ thiếu đói tăng 39,8% và số lượt nhân khẩu thiếu đói tăng 40,8%. Riêng tháng 11/2008 cả nước có 28,1 nghìn hộ và 130,9 nghìn nhân khẩu thiếu đói, chiếm  0,24% tổng số hộ nông nghiệp và chiếm 0,26% tổng số nhân khẩu nông nghiệp.

Tình trạng thiếu đói xảy ra chủ yếu tại các tỉnh vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiếu đói là do ảnh hưởng của bão, lũ, rét đậm, rét hại; ngoài ra giá cả nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống nông dân.

Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 32,3 nghìn tấn