Thông tin chi tiết toàn văn dự thảo văn bản

BỘ Y TẾ 

 

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA

AN TOÀN THỰC PHẨM GIAI ĐOẠN 2011-2020

VÀ TẦM NHÌN 2030

 

(Dự thảo 9) 

 

Hà Nội, tháng 3 năm 2011

MỤC LỤC

MỤC LỤC

2

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

4

PHẦN MỞ ĐẦU

5

PHẦN THỨ NHẤT: CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

7

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

7

II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020

8

III. TÌNH HÌNH AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TRÊN THẾ  GIỚI

9

IV. THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM Ở NƯỚC TA

10

A. Thực trạng sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm

10

B. Công tác quản lý an toàn thực phẩm ở Việt Nam

14

C. Tình hình ngộ độc thực phẩm

19

V. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM GIAI ĐOẠN 2004-2010

20

A. Kết quả đạt được

20

B. Những yếu kém, bất cập trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm

20

VI. DỰ BÁO TÌNH HÌNH ATTP GIAI ĐOẠN 2011-2020

23

PHẦN THỨ HAI: CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA AN TOÀN THỰC PHẨM GIAI ĐOẠN 2011-2020 VÀ TẦM NHÌN 2030

25

I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM

25

A. Quan điểm

25

B. Định hướng

25

II. MỤC TIÊU

25

1. Mục tiêu chung

25

2. Mục tiêu cụ thể

26

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

27

A. Nhóm giải pháp về xã hội

27

B. Nhóm giải pháp về chuyên môn

29

C. Nhóm giải pháp về nguồn lực

32

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN

34

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

35

VI.   KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

39


 

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 

 

ATVSTP

An toàn vệ sinh thực phẩm

ATTP

An toàn thực phẩm

BVTV

Bảo vệ thực vật

GMP

Thực hành sản xuất tốt

GHP

Thực hành vệ sinh tốt

(Good Hygiene Practice)

GLP

Thực hành tốt phòng thí nghiệm

(Good laboratory Practice)

HACCP

Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn

(Hazard Analysis and Critical Control Point)

NĐTP

Ngộ độc thực phẩm

QPPL

Quy phạm pháp luật

RAT

Rau an toàn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

WHO

Tổ chức Y tế Thế giới

(World Health Oganization)

 

PHẦN MỞ ĐẦU 

An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo an toàn thực phẩm góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm ở nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình trạng ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở nước ta cơ bản vẫn là nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình nên việc kiểm soát an toàn vệ sinh rất khó khăn. Mặc dù Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt trong bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong thời gian qua song công tác quản lý an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém, bất cập, hạn chế về nguồn lực và đầu tư kinh phí và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Dự án bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm đã được đưa vào Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống một số bệnh xã hội và dịch bệnh nguy hiểm giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2010 là Chương trình mục tiêu quốc gia với 6 dự án. Ngành y tế đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai nhiều hoạt động bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm rộng khắp trên toàn quốc. Cùng với việc xây dựng hành lang pháp lý, hệ thống quản lý chuyên ngành thuộc ngành y tế và ngành Nông nghiệp được hình thành từ Trung ương xuống địa phương. Về cơ bản, các mục tiêu đề ra vào năm 2010 đã đạt được. Tuy nhiên, nhiệm vụ bảo đảm an toàn thực phẩm trong thời gian tới đang đặt ra hết sức thách thức, đòi hỏi các định hướng, các chính sách và giải pháp phù hợp của nhà nước.

Ngày 25/5/2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 734/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 34/2009/QH12 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luât về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó giao cho Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020. Ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật An toàn thực phẩm, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011.

Các định hướng và giải pháp bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm ở nước ta trong Chiến lược quốc gia bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 dựa trên đường lối, chủ trương của Đảng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và đường lối phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Bản chiến lược thể hiện quyết tâm và cam kết mạnh mẽ của Chính phủ đối với việc cải thiện tình trạng an toàn vệ sinh thức phẩm gắn liền với cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Việt nam.


PHẦN THỨ NHẤT
CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

 

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

Nhận rõ tính cấp bách của tình hình VSATTP ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP:

1. Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12

2. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11;

3. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá số 05/2007/QH12;

4. Luật Thủy sản số 17/2003/QH11;

5. Luật Thanh tra sửa đổi số 56/2010/QH12;

6. Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH11;

7. Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 36/2001/PL-UBTVQH10;

8. Pháp lệnh giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11;

9. Pháp lệnh giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11;

10. Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm;

11. Nghị định số 79/2008/NĐ - CP ngày 18/7/2008 của Chính phủ về việc quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra kiểm nghiệm về VSATTP;

12. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2006 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ mới; 

13. Nghị quyết số 34/2009/NQ- QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII “Đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, VSATTP”;

14. Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

15. Quyết định số 734/2010/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội khóa XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm;

16. Các cam kết hội nhập quốc tế về TBT/SPS trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và ATTP.


II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020

1. Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, nhờ phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước, Việt Nam đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng khoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược 2001 - 2010 đã được thực hiện, đạt được bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,2%/năm. Năm 2010 tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.200 USD. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước. Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.

Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển đất nước. Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn bất cập. Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế. Tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém, chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết có hiệu quả những khâu đột phá, then chốt và những vấn đề xã hội bức xúc. Quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ. Kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi.

2. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt nam giai đoạn 2011-2020

Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt nam giai đoạn 2011-2020 được xây dựng dựa trên 5 quan điểm phát triển đó là: phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Chiến lược có mục tiêu tổng quát là “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”, và có các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.  Chiến lược cũng đưa ra các đột phá trong giai đoạn tới như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới toàn diện nền giáo dục quốc dân; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Về phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Chiến lược cũng đưa ra vấn đề giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng; nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam.

 

III. TÌNH HÌNH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN THẾ GIỚI

Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Đối với các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng hơn nhiều, hàng năm gây tử vong hơn 2,2 triệu người, trong đó hầu hết là trẻ em. Cuộc khủng hoảng gần đây (2006) ở Châu Âu là 1.500 trang trại sử dụng cỏ khô bị nhiễm Dioxin gây nên tình trạng tồn dư chất độc này trong sản phẩm thịt gia súc được lưu hành ở nhiều lục địa. Việc lan tỏa thịt và bột xương từ những con bò điên (BSE) trên khắp thế giới làm nổi lên nỗi lo ngại của nhiều quốc gia. Cũng theo báo cáo của WHO (2006) dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện ở 44 nước ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Trung Đông gây tổn thất nghiêm trọng về kinh tế. Ở Pháp, 40 nước đã từ chối không nhập khẩu sản phẩm thịt gà từ Pháp gây thiệt hại 48 triệu USD/ tháng. Tại Đức, thiệt hại vì cúm gia cầm đã lên tới 140 triệu Euro. Tại Ý đã phải chi 100 triệu Euro cho phòng chống cúm gia cầm. Tại Mỹ phải chi 3,8 tỷ USD để chống bệnh này.

Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng. Nước Mỹ hiện tại mỗi năm vẫn có 76 triệu ca NĐTP với 325.000 người phải vào viện và 5.000 người chết. Trung bình cứ 1.000 dân  có 175 người bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 1.531 đôla Mỹ (US - FDA 2006). Nước Úc có Luật thực phẩm từ năm 1908 nhưng hiện nay mỗi năm vẫn có khoảng 4,2 triệu ca bị NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm, trung bình mỗi ngày có 11.500 ca mắc bệnh cấp tính do ăn uống gây ra và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 1.679 đôla Úc. Ở Anh cứ 1.000 dân có 190 ca bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho 1 ca NĐTP mất 789 bảng Anh. Tại Nhật Bản, vụ NĐTP do sữa tươi giảm béo bị ô nhiễm tụ cầu trùng vàng tháng 7/2000 đã làm cho 14.000 người ở 6 tỉnh bị NĐTP. Công ty sữa SNOW BRAND phải bồi thường cho 4.000 nạn nhân mỗi người mỗi ngày 20.000 yên và Tổng giám đốc phải cách chức. Bệnh bò điên (BSE) ở Châu Âu (năm 2001) nước Đức phải chi 1 triệu USD, Pháp chi 6 tỷ France, toàn EU chi 1 tỷ USD cho biện pháp phòng chống bệnh lở mồm long móng (2001), các nước EU chi cho 2 biện pháp “giết bỏ” và “cấm nhập” hết 500 triệu USD. Tại Trung Quốc, gần đây nhất, ngày 7/4/2006 đã xẩy ra vụ NĐTP ở trường học Thiểm Tây với hơn 500 học sinh bị, ngày 19/9/2006 vụ NĐTP ở Thượng Hải với 336 người bị do ăn phải thịt lợn bị tồn dư hormone Clenbutanol. Tại Nga, mỗi năm trung bình có 42.000 chết do ngộ độc rượu. Tại Hàn Quốc, tháng 6 năm 2006 có 3.000 học sinh ở 36 trường học bị ngộ độc thực phẩm.

Xu hướng ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm xẩy ra ở quy mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến, việc phòng ngừa và xử lý vấn đề này càng ngày càng khó khăn với mỗi quốc gia trở thành một thách thức lớn của toàn nhân loại. Hàng loạt các vấn đề liên quan đến ATTP xẩy ra liên tục trong thời gian gần đây đã cho thấy rõ vấn đề này, như là: vấn đề melamine (năm 2008).

 

IV. THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM Ở NƯỚC TA

            A. Thực trạng sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm

1. Thực trạng an toàn vệ sinh trong sản xuất rau quả,  trong nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản, trong chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm

a) Trong chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật:

            Việc thử nghiệm, khảo nghiệm và ban hành danh mục thuốc thú y cấm sử dụng, được phép sử dụng và hạn chế sử dụng được thực hiện đúng qui định pháp luật. Nhiều cơ sở sản xuất thuốc thú y đã được cấp chứng chỉ ISO và GMP. Công tác thanh kiểm tra, lấy mẫu thuốc thú y tiêu thụ trên thị trường của cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc thú y để kiểm tra chất lượng được duy trì. Nhiều vụ việc vi phạm đã được phát hiện và xử lý kịp thời.

Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được thực hiện tốt; việc giết mổ gia súc tập trung bước đầu được tổ chức ở một số thành phố lớn. Tuy nhiên, trong tổng số 17.129 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, mới có  617 cơ sở giết mổ tập trung, chiếm tỷ lệ 3,6 % (phía Bắc có 198 cơ sở, phía Nam có 428 cơ sở); số điểm giết mổ nhỏ lẻ là 16.512 điểm (94,4%). Hiện tại, mới kiểm soát được 7.281 cơ sở (trong đó khoảng 22,1% đạt yêu cầu vệ sinh thú y); tỷ lệ động vật được kiểm soát giết mổ chiếm 58,1%.

Việc xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn áp dụng VietGaHP trong chăn nuôi gà thịt thương phẩm, gà đẻ trứng thương phẩm, bò sữa, ong mật được triển khai tích cực. Đến nay, khoảng 3% cơ sở chăn nuôi (lợn, gà, bò sữa, ong mật...) đã triển khai áp dụng VietGaHP.

            Chương trình giám sát ô nhiễm sinh học và dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm chăn nuôi (thịt lợn, gà, mật ong, trứng vịt muối....) và kiểm soát chất lượng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm nông sản (thức ăn, thuốc thú y...) đang được triển khai, tuy chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn nhưng bước đầu đã có sự phối hợp vận hành giám sát của các đơn vị có liên quan. Kết quả giám sát về chất lượng, an toàn thực phẩm cho thấy tỷ lệ mẫu thịt gia súc, gia cầm phát hiện vi sinh vật gây bệnh là 27,67%, giảm so với năm 2009 (29,14%) tuy nhiên tỷ lệ mẫu thịt gia súc, gia cầm phát hiện dư lượng hóa chất cấm là 1,19%, tăng so với năm 2009 (0,55%).

            b) Trong sản xuất rau, quả:

Hiện tại có 43 tỉnh, thành phố đã và đang quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn. Tuy nhiên, diện tích đủ điều kiện sản xuất rau an toàn mới chỉ 8,5% tổng diện tích trồng rau cả nước; diện tích đủ điều kiện sản xuất cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20%, số còn lại do sản xuất nhỏ lẻ, không trong vùng quy hoạch nên khó kiểm soát. Nhiều địa phương đã xây dựng các vùng, mô hình sản xuất cây ăn quả an toàn (Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Long An,…).

Chương trình giám sát ô nhiễm sinh học và dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm trồng trọt (rau, quả, chè) và kiểm soát chất lượng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm nông sản (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật...) đang được triển khai. Kết quả giám sát về chất lượng, an toàn thực phẩm cho thấy tỷ lệ mẫu rau có dư lượng thuốc  BVTV vượt quá giới hạn cho phép là 6,17% giảm so với năm 2009 (6,44%).

            c) Trong nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản: việc kiểm soát chất lượng, ATTP trong tất cả các công đoạn sản xuất thủy sản đã được đẩy mạnh. Từ năm 1994, Ngành thủy sản đã chuyển đổi phương thức kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, hướng dẫn các doanh nghiệp chế biến thủy sản áp dụng Quy phạm thực hành sản xuất tốt (GMP), Quy phạm vệ sinh chuẩn (SSOP), kiểm soát an toàn thực phẩm dựa trên nguyên lý phân tích mối nguy ATTP và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP). Bên cạnh đó, đã hướng dẫn triển khai áp dụng các chương trình kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trong tất cả các công đoạn của chuỗi sản xuất thủy sản theo từng đối tượng cụ thể từ tàu cá, cảng cá, chợ cá đầu mối, đại lý thu gom, cơ sở bảo quản nhằm kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất kinh doanh từ ao nuôi đến bàn ăn. Bên cạnh đó, nhiều Chương trình khác đã được triển khai, Chương trình giám sát an toàn thực phẩm các vùng nuôi và thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ, Chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất, kháng sinh có hại trong thủy sản nuôi, Chương trình kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm thủy sản sau thu hoạch (tập trung cho thủy sản tiêu thụ nội địa), Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững trên cơ sở ứng dụng Quy phạm thực hành nuôi tốt (GAqP), Quy tắc nuôi thủy sản có trách nhiệm (CoC), trong đó nhiều chương trình đã được EU công nhận.

2. Thực trạng an toàn vệ sinh trong trong chế biến, kinh doanh thực phẩm

a) Sản xuất sử dụng/kinh doanh chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chất bảo quản thực phẩm

Chất phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, nguyên liệu thực phẩm được kiểm tra năm 2008 là 27.587.658 kg/298 lô. Việc quản lý ATTP đối với chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chất bảo quản thực phẩm còn bất cập: văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trong lĩnh vực này còn thiếu cụ thể; việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa thường xuyên; phương tiện, trang thiết bị kiểm tra còn hạn chế. Tình trạng mua bán, sử dụng các chất phụ gia, chất bảo quản, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không rõ nguồn gốc, ngoài danh mục cho phép sử dụng còn phổ biến ở các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, chế biến thủ công, nhiều loại phụ gia thực phẩm không bảo đảm chất lượng ATTP vẫn lưu thông trên thị trường.

b)  Sản xuất sử dụng/kinh doanh rượu, bia, nước giải khát, nước uống đóng chai

Các cơ sở SXKD đồ uống quy mô công nghiệp tuân thủ khá đầy đủ các quy định về VSATTP. Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát, nước uống đóng chai quy mô nhỏ, thủ công chưa thực hiện đầy đủ các quy định về chất lượng VSATTP. Sản xuất rượu thủ công vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn (250-300 triệu lít/năm) và có tới 95,7% người uống rượu sử dụng loại rượu này. Tuy nhiên, việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyt trong rượu còn chưa tốt nên tử vong do ngộ độc rượu còn cao (Từ 29/9 đến 29/10/2008, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh ghi nhận 11 ca tử vong do rượu, riêng trong 8 tháng đầu năm 2010 đã có 9 ca tử cong do rượu, trong đó 5 ca tại Ninh Thuận, 4 ca tại Gia Lai). Lượng rượu giả, nước giải khát kém chất lượng bị thu giữ vẫn ở mức cao.Theo báo cáo của Bộ Công thương, số rượu bị thu giữ là 18.126 chai (năm 2006), 8.278 chai (năm 2007) và 6.424 chai (năm 2008); lượng nước giải khát các loại bị thu giữ là 33.874 chai (năm 2006), 41.714 chai (năm 2007) và 46.962 chai (năm 2008).

c)  Sản xuất sử dụng/kinh doanh thực phẩm chức năng và sữa

- Đối với thực phẩm chức năng: Thực phẩm chức năng xuất hiện trên thị trường ngày càng nhiều, chủ yếu là nhập khẩu, chỉ tính riêng năm 2008, thực phẩm chức năng nhập khẩu được kiểm tra nhà nước về CLVSATTP năm 2008 đã là 7.887.000 kg/106 lô. Tuy nhiên, tiêu chí và phương thức quản lý loại thực phẩm này hiện còn nhiều quan điểm khác nhau. Bên cạnh đó, do năng lực của các cơ sở kiểm nghiệm còn hạn chế nên nhiều khi không xác định được các hoạt chất của mẫu kiểm tra để xác định đó là thực phẩm hay dược phẩm. Do vậy, việc quản lý loại thực phẩm này gặp nhiều khó khăn.

- Đối với sữa: Hiện nay, lượng sữa ở Việt Nam chủ yếu do nhập khẩu, trong đó 72% là nhập khẩu, số còn lại là sữa tươi tự sản xuất trong nước. Tính trung bình người Việt Nam tiêu thụ khoảng 9,5 lít sữa/người/năm. Tuy nhiên, qua thanh tra, kiểm tra cho thấy, sản phẩm sữa là hàng giả, hàng kém chất lượng có xu hướng tăng; sữa có hàm lượng protein thấp so với tiêu chuẩn công bố, sữa nhiễm melamine vẫn phát hiện thấy ở một số địa phương...

d) Thực trạng ATTP trong chế biến thịt, trứng và mật ong

Theo báo cáo của Cục Thú y, kết quả của Chương trình giám sát VSATTP đối với thịt, trứng và mật ong năm 2010 như sau:

- Về giám sát sử dụng thuốc kháng sinh trong trại nuôi (30 trại lợn, 30 trại gà): 43/50 mẫu cám có dư lượng thuốc kháng sinh cao hơn quy định, 5/10 mẫu nước tiểu phát hiện thấy hóc môn tăng trưởng (04 mẫu có clenbuterol, 01 mẫu có salbutamol).

- Về ô nhiễm vi sinh vật và hóa chất trong thịt: 18/106 mẫu phát hiện có kháng sinh và chất cấm (cloramphenicol, hóc môn tăng trưởng beta-agonist, dư lượng chì trên mức cho phép, dư lượng enroflorxacin). Tại nơi giết mổ, 47/233 mẫu thịt lợn và thịt gà không đạt tiêu chuẩn về tổng số vi khuẩn hiếu khí, 89/233 mẫu thịt lợn và thịt gà vượt mức giới hạn enterobacteriaceae. Tại nơi kinh doanh, 71/431 mẫu thịt nhiễm Salmonella, 68/150 mẫu thịt lợn nhiễm E.coli, 5/84 mẫu thịt gà nhiễm Campylobacter.

- Đối với trứng: Chương trình được thực hiện tại 15 cơ sở thu gom và 8 cơ sở chế biến nằm trong địa bàn của 6 tỉnh phía Nam (TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp), kết quả cho thấy 8/15 cở sở thu gom trứng đạt loại tốt về điều kiện vệ sinh thú y (các cơ sở còn lại đều đạt loại khá), 100% mẫu trứng đạt yêu cầu vệ sinh (Salmonella âm tính, không phát hiện thấy sudan I, II, III, IV, DDT, Dichlorvos, Cypermethrin, Lindane, Neomycin, Spectinomycin, Tylosin, Tetracycline).

Về điều kiện vệ sinh thú y đối với các cơ sở chăn nuôi ong lấy mật, các cơ sở thu gom và chế biến mật ong, Cục Thú y đã tiến hành lấy 175 mẫu mật ong để phân tích các chỉ tiêu chất tồn dư. Trong số 34 mẫu đã có kết quả phân tích, đã phát hiện 3 mẫu có dư lượng sulphadiazin, 1 mẫu có enrofloxacin và 2 mẫu có streptomicine.

đ) Thực trạng kiểm soát an toàn thực phẩm tại  các chợ, các siêu thị

Tính đến nay, trong cả nước đã xây dựng được 8.333 chợ các loại, trong đó có 86 chợ đầu mối. Việc xây dựng các chợ đầu mối đã góp phần kiểm soát chất lượng ATTP của nguồn nguyên liệu thực phẩm. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định về ATTP tại các chợ ở nông thôn, nội đô, chợ cóc, chợ tạm hiện vẫn còn bất cập. Vẫn xảy ra tình trạng tư thương sử dụng các hóa chất bảo quản thực phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt là với hoa quả, nội tạng động vật. Nhiều trường hợp không qua kiểm tra vẫn đóng dấu vệ sinh thú y, bán vé kiểm dịch tại chợ...

Hiện nay, cả nước có 386 siêu thị, 103 trung tâm thương mại đạt tiêu chuẩn, nhiều hệ thống siêu thị lớn đã có sự đầu tư cho việc kiểm soát chất lượng ATTP đối với nguồn nguyên liệu cung cấp cho siêu thị nên nhìn chung thực phẩm tại siêu thị đáp ứng yêu cầu về ATTP.

e)  Thực trạng chế biến ATTP tại các bếp ăn tập thể của khu công nghiệp, cơ quan, trường học, bệnh viện

Điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm tại các bếp ăn tập thể của cơ quan, trường học đã được cải thiện đáng kể về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ, nguyên liệu chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, còn nhiều cơ sở chưa đạt và chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng vẫn hoạt động. Trách nhiệm của người đứng đầu tại các khu công nghiệp đối với tình trạng ngô độc tập thể gia tăng chưa rõ ràng. Từ năm 2004-2009 số vụ ngộ độc thực phẩm trung bình xảy ra tại khu công nghiệp là 7 - 32 vụ/năm với số người mắc là 905 - 3.589 người/năm (trung bình 113 người/vụ), có 1 trường hợp tử vong.

g) Thực trạng chế biến ATTP tại các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố, khu du lịch

Tỷ lệ các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP vẫn còn thấp (chiếm 16,5%), còn trung bình năm 2008 tỷ lệ được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP của cả nước đối với thức ăn đường phố còn thấp (6,1%). Trong khi đó, các khách sạn, nhà hàng đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ chế biến nên cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc không có trong danh mục được phép sử dụng để chế biến thức ăn vẫn còn bị phát hiện.

h) Thực trạng chế biến ATTP tại các khách sạn, nhà hàng

Các khách sạn, nhà hàng đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ chế biến nên cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo đảm ATTP. Do vậy, nhiều năm qua, ít có các vụ ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng. Tuy nhiên, việc chế biến, sử dụng thực phẩm tại một số khách sạn, nhà hàng còn một số tồn tại như sử dụng nhiều loại phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc không có trong danh mục được phép sử dụng để chế biến thức ăn…

B. Công tác quản lý an toàn thực phẩm ở Việt Nam

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

- Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội thông qua vào ngày 17/6/2010 và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2011. Nhiều quy định liên quan đến quản lý chất lượng ATTP đã được ban hành trong nhiều văn bản QPPL khác nhau như pháp lệnh  về ATTP (2003), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (2006), pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y… Số văn bản QPPL có liên quan đến quản lý chất lượng ATTP do các cơ quan Trung ương ban hành là 337, do các cơ quan địa phương ban hành là 930. Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 của Chính phủ quy định hệ thống tổ chức, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được triển khai.

- Hiện tại, trên thị trường có hàng chục ngàn loại thực phẩm, tuy nhiên, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật để quản lý chất lượng ATTP còn thiếu và chưa được cập nhật. Tính đến tháng 2/2009 mới có 406 tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) liên quan đến ATTP được ban hành cho sản phẩm thực phẩm (tỷ lệ tiêu chuẩn Việt Nam hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt khoảng 63%). Thực hiện Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, các Bộ đã khẩn trương xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật về ATTP thuộc phạm vi quản lý của ngành. Năm 2010, Bộ Y tế đã ban hành 21 quy chuẩn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành được 02 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện chăn nuôi lợn, gia cầm an toàn sinh học. Để đảm bảo yêu cầu quản lý và triển khai Luật An toàn thực phẩm, việc ban hành các quy chuẩn kỹ thuật đang là một đòi hỏi cấp thiết.

2. Hệ thống quản lý  nhà nước về ATTP  

a) Hệ thống quản lý:

Tại tuyến Trung ương, công tác quản lý ATTP được giao cho 3 Bộ quản lý: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thương. Tại Bộ Y tế, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm được thành lập để giúp Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về VSATTP (theo Nghị định 79/2008/NĐ-CP). Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất đa ngành, để bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản, công tác quản lý chất lượng, VSATTP nông lâm thủy sản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện như Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản,Cục Chăn nuôi, Cục Trồng trọt, Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật và Cục Chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối. Tại Bộ Công thương, công tác quản lý ATTP giao cho Vụ Khoa học Công nghệ làm đầu mối.

Tại tuyến tỉnh, thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ, đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trực thuộc Sở Y tế với trung bình khoảng 11 biên chế hành chính; 47/63 tỉnh đã thành lập Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thuỷ sản với bình quân 12-15 biên chế hành chính/Chi cục, các địa phương còn lại có Phòng Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đầu mối tổ chức các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm với số lượng biên chế 4-6 người và đang trình đề án chuyển thành Chi cục trong năm 2011.

Tại tuyến huyện, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượng ATTP là 1.949 người (trung bình là 3,0 người/huyện).

Tại tuyến cấp xã, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượng ATTP là 11.516 người (trung bình là 1,05 người/xã) (không chuyên trách) nên chưa được trả lương vì hiện tại cấp xã/phường không được giao chức năng quản lý về ATTP. 

b) Thanh tra chuyên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm:

Tại Trung ương đã thành lập Thanh tra Chi cục ATVSTP và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản. Tại tuyến tỉnh có Thanh tra Chi cục ATVSTP với tổng số cán bộ là 171 người và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản với 1-3 cán bộ/tỉnh. Ngoài ra, trong Ngành nông nghiệp còn có hệ thống thanh tra chuyên ngành về thú y, bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương cũng góp phần vào công tác thanh tra, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm.

c) Hệ thống  kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm

Thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP, mạng lưới kiểm nghiệm ATTP đang được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương. Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, cả nước hiện có 72 cơ sở tham gia kiểm nghiệm ATTP trong ngành y tế. Các trung tâm kiểm nghiệm thuộc Lĩnh vực khoa học công nghệ, Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tham gia tích cực vào công tác kiểm nghiệm thực phẩm.

 Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy, nhiều cơ sở kiểm nghiệm còn chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, nhân lực được đào tạo, hóa chất, mẫu chuẩn, thiết bị hiện đại có độ chính xác cao rất thiếu, đặc biệt là các la bô thuộc trung tâm y tế dự phòng các tỉnh. Đáng chú ý là chưa có nhiều la bô đạt chuẩn ISO/IEC/17025 là yêu cầu thiết yếu trong kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

3. Quản lý chất lượng ATTP trong xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm

Đối với xuất khẩu: Theo quy định hiện hành, việc quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm sản phẩm nông lâm thủy sản được thực hiện theo Thỏa thuận song phương của Cơ quan thẩm quyền 2 nước, theo yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc theo quy định quản lý của Việt Nam trong từng thời kỳ (hay còn gọi là kiểm tra bắt buộc). Các trường hợp còn lại, phần lớn nội dung chất lượng an toàn thực phẩm được thực hiện theo cam kết nêu tại Hợp đồng thương mại giữa bên mua và bên bán, thường có kết quả giám định bên thứ 3. Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu nông sản ước đạt 9,95 tỉ USD, tăng 24,22% so với năm 2009; thuỷ sản đạt 4,94 tỷ USD, tăng 16,3%. Đã có 3 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD trong đó có thủy sản và gạo; 2 mặt hàng (cà phê và hạt điều) có kim ngạch xuất khẩu trên 1,0 tỷ USD.

Đối với nhập khẩu: Việc quản lý các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật cũng như các quy định về thương mại, hải quan. Đặc biệt, từ 01/9/2010, các sản phẩm động vật (bao gồm cả thủy sản) xuất khẩu vào Việt Nam phải được sản xuất tại các cơ sở có tên trong Danh sách được cơ quan thẩm quyền Việt Nam (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công nhận đủ điều kiện và được phép xuất khẩu vào Việt Nam. Trong năm 2010, kim ngạch nhập khẩu sản phẩm nông lâm thủy sản ước đạt 4,7 tỉ USD, tập trung các mặt hàng chính là nguyên liệu sản xuất thức ăn, sữa, dầu mỡ động thực vật, thủy sản, rau quả, muối. Theo thống kê cho đến thời điểm hiện tại, đã có 22 nước với 2049 cơ sở sản xuất thủy sản; 13 nước với 18.879 cơ sở sản xuất đăng ký xuất khẩu động vật vào Việt Nam được chấp thuận; trong đó những đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ có 16.930 cơ sở, Canada: 1.599 cơ sở, Australia: 92 cơ sở, EU: 99 cơ sở (Anh, Pháp, Italia...), Nhật: 293, Trung Quốc: 419 cơ sở sản xuất nông sản và thủy sản đã được chấp thuận.  

Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động xuất nhập khẩu được quản lý kiểm tra chính thức (chính ngạch), vẫn còn một lượng không nhỏ sản phẩm nông lâm thủy sản xuất nhập khẩu theo diện hàng hóa trao đổi cư dân biên giới (tiểu ngạch), thậm chí xuất nhập khẩu lậu qua các đường mòn, lối mở biên giới không được kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, phụ gia thực phẩm không có giấy xác nhận chất lượng nhập khẩu của cơ quan kiểm tra nhà nước gây ảnh hưởng, bức xúc tương đối lớn cho việc bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng.

4. Công tác  kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm và xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm

Trong thời gian qua, hoạt động kiểm tra, thanh tra đã được tăng cường, đã phát huy hiệu quả tích cực: kịp thời phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về ATTP. Theo số liệu từ báo cáo của các tỉnh, thành phố trong 6 năm 2004-2009 đã tổ chức 1.671.100 lần kiểm tra. Trong số 13 loại hình cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) liên quan đến bảo đảm chất lượng ATTP, số cơ sở SXKD được thanh tra hàng năm giai đoạn 2004-2006 là 77.184 cơ sở/năm, giai đoạn 2007-2008 là 123.722 cơ sở/năm, riêng năm 2009 là 309.992 cơ sở.

Bên cạnh hoạt động thanh tra ATTP của ngành y tế, thanh tra chuyên ngành về thú y, thủy sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật cũng đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra nên đã góp phần đảm bảo chất lượng ATTP, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, đồng thời ngăn chặn kịp thời hàng hóa không bảo đảm chất lượng vào Việt Nam (như ngăn chặn kịp thời một số lô thực phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc nhiễm melamine).

Tuy nhiên, trong hoạt động thanh tra còn bộc lộ một số điểm bất cập, mỗi tỉnh chỉ có 0,5 cán bộ được biên chế làm công tác thanh tra ATTP. Từ khi có Nghị định 79/2008/NĐ-CP, thanh tra chuyên ngành về ATTP mới được thành lập ở Trung ương, Bộ Y tế hiện có 10 người, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có 3 người làm công tác thanh tra chuyên ngành ATTP, ít hơn rất nhiều so với lực lượng thanh tra ATTP ở một số nước. Do vậy, hoạt động thanh tra còn chưa thường xuyên, chủ yếu tập trung vào tháng hành động chất lượng ATTP và các dịp lễ, tết... Mặt khác, trang thiết bị phục vụ tác nghiệp còn thiếu; việc xử lý vi phạm còn chưa kiên quyết; mức xử phạt thấp nên chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa (giai đoạn 2004-2006 có 9.251 cơ sở SXKD bị phạt tiền, trung bình phạt 542 ngàn đồng/lần; giai đoạn 2007-2008 có 10.928 cơ sở SXKD bị phạt tiền, trung bình phạt 1.071 ngàn đồng/lần). Bên cạnh đó, do phối hợp hoạt động giữa các lực lượng thanh tra chuyên ngành còn chưa chặt chẽ nên có tình trạng trong một năm có nhiều đoàn thanh tra đến 1 doanh nghiệp gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Qua kiểm tra, thanh tra phát hiện thấy các vi phạm chủ yếu là vi phạm về điều kiện ATTP, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng quá hạn sử dụng, hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ; vận chuyển, buôn bán gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc không rõ nguồn gốc; vi phạm về nhãn mác hàng hóa, đặc biệt là tình trạng làm giả nhãn mác hàng hóa của các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh gây ảnh hưởng đến uy tín, doanh thu của doanh nghiệp và thiệt hại cho người tiêu dùng.

Năm 2009 là năm đầu tiên triển khai công tác hậu kiểm. Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức 4 đoàn hậu kiểm của Trung ương triển khai liên tục từ tháng 7 - 11/2009 tại 60 cơ sở trên địa bàn 12 tỉnh, thành phố về 4 mặt hàng trọng điểm là sữa, thực phẩm chức năng, nước uống đóng chai và rượu công nghiệp. Đây là chiến dịch hậu kiểm được tổ chức một cách bài bản, và có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Qua kiểm tra cho thấy: các vi phạm chủ yếu như quảng cáo (trên 50%), ghi nhãn (28,4%), Không duy trì được điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm tại cơ sở sản xuất, kinh doanh (45,4%), tiêu hủy 15 loại tài liệu quảng cáo với trên 400 ấn phẩm, giao Thanh tra các Sở Y tế tiếp tục xử lý và theo dõi khắc phục sai phạm đối với 41 cơ sở.

Năm 2010, công tác hậu kiểm tiếp tục được đẩy mạnh và ưu tiên hàng đầu. Trong 11 tháng năm 2010 đã có 27.138 đoàn thanh, kiểm tra, hậu kiểm của địa phương tiến hành thanh, kiểm tra tại 434.891 cơ sở, trong đó phát hiện 111.772 cơ sở vi phạm.

Về xử lý:  Tỷ lệ các cơ sở SXKD bị phạt tiền tăng từ 5,5%/năm (2004-2006) lên 8,2%/năm (2007-2008), năm 2009 và 2010 chỉ còn 2,6% và 1,7%. Tỷ lệ các cơ sở SXKD bị hủy sản phẩm tăng từ 2,1%/năm (2004-2006) lên 3,0%/năm (2007-2008). Năm 2009, 2010 tỷ lệ này giảm còn 1,7% và 1,4%. Tỷ lệ các cơ sở SXKD bị đình chỉ sản xuất tăng từ 0,1%/năm (2004-2006) lên 0,2%/năm (2007-2008) và trong năm 2009, 2010 chỉ còn 0,09% và 0,06%.

Về xử lý hình sự: Theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, về xét xử hình sự đối với các vi phạm trong lĩnh vực ATTP trong 5 năm 2004-2008 toàn ngành tòa án đã thụ lý 160 vụ (chiếm 0,05% tổng số vụ án hình sự đã thụ lý) với 292 bị cáo. Các Tòa án đã xét xử 152 vụ với 281 bị cáo (đạt tỷ lệ giải quyết xử 95% về số vụ và 96% số bị cáo); đã tuyên phạt tù từ trên 15 đến 20 năm đối với 1 bị cáo, từ trên 7 năm đến 15 năm đối với 7 bị cáo, từ trên 3 năm đến 7 năm đối với 47 bị cáo, từ 3 năm trở xuống đối với 90 bị cáo, được hưởng án treo đối với 128 bị cáo, cải tạo không giam giữ đối với 8 bị cáo. Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác xét xử vẫn tồn tại một số bất cập như căn cứ để chuyển các vi phạm pháp luật sang xử lý hình sự; căn cứ xác định mức thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của người tiêu dùng do vi phạm quy định về ATTP để khởi tố các vụ vi phạm pháp luật hình sự còn chưa được quy định cụ thể. 

5. Xã hội hóa công tác quản lý và bảo đảm chất lượng ATTP

Công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm đã được xã hội hóa trong một số hoạt động dịch vụ kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước; xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn như HACCP, GMP, VietGAP; đào tạo, tập huấn kiến thức về ATTP, tuyên truyền giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, công tác này vẫn chưa được đẩy mạnh, nhiệm vụ quản lý nhà nước giao cho các cơ quan quản lý khá nặng nề, trong khi nguồn kinh phí nhà nước cấp còn hạn chế; chưa có cơ chế chính sách để huy động các nguồn lực từ các đoàn thể, tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp, sự tham gia của các doanh nghiệp trong việc bảo đảm chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm.

6. Đầu tư kinh phí cho công tác quản lý ATTP

Hiện tại, đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP còn thấp. Kinh phí được cấp cho công tác quản lý chất lượng ATTP giai đoạn 5 năm (từ 2004-2008) là 329 tỷ đồng, tính bình quân đầu người của cả nước chỉ đạt 780 đồng/người/năm - chỉ bằng 1/19 mức đầu tư của Thái Lan và bằng 1/136 mức đầu tư cho công tác ATTP của một cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) của Mỹ. Năm 2009, kinh phí đầu tư cho công tác tày là 137 tỷ đồng, tính bình quân đầu người của cả nước mới chỉ đạt 1.597 đồng/người/năm.

Theo số liệu thống kê từ báo cáo của 63 tỉnh, thành phố có 54 tỉnh báo cáo về kinh phí cho công tác quản lý ATTP trong 5 năm từ 2004 đến 2008 cho thấy, nguồn ngân sách trung ương cấp cho công tác này là rất thấp, nguồn ngân sách các địa phương dành cho công tác này còn thấp hơn nhiều, chỉ có một số ít tỉnh có đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương cho hoạt động này. Trung bình tổng kinh phí đầu tư cho một tỉnh giai đoạn 2004-2006 là 484,76 triệu/tỉnh/năm, giai đoạn 2007-2008 là 762,1 triệu/tỉnh/năm, giai đoạn 2009-2010 là 1.468 triệu/tỉnh/năm.

      Mặc dù trung bình kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP giai đoạn 2009-2010 tăng 3,03 lần, giai đoạn 2007-2008 đã tăng 1,57 lần so với giai đoạn 2004- 2006 nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công tác này.

C. Tình hình ngộ độc thực phẩm

Theo thống kê của của Bộ Y tế,  từ năm 2004-2009 đã có 1.058 vụ NĐTP, trung bình 176,3 vụ/năm, số người bị NĐTP là 5.302 người/năm, số người chết là 298 người (49,7 người/năm), tính trung bình tỷ lệ người bị NĐTP cấp tính là 7,1 người/100 ngàn dân/năm. Năm 2009 có 152 vụ ngộ độc thực phẩm với 5.212 người mắc và 31 người tử vong.  So sánh với năm 2008, số vụ ngộ độc/năm 2009 giảm 53 vụ (25,9%); số người mắc giảm 2.616 người (33,4%); số người đi viện giảm 1.888 người (31,3%); và số người bị tử vong giảm  26 trường hợp ( 42,6%) . Về nguyên nhân NĐTP, 29,6% số vụ do thực phẩm bị ô nhiễm vi sinh vật, 5,2% số vụ do hóa chất, 24,7% do thực phẩm có sẵn độc tố tự nhiên, 40,5% số vụ không xác định được nguyên nhân.

Riêng trong năm 2010 (tính đến 20/12/2010), cả nước đã xảy ra 175 vụ ngộ độc (trong đó có 34 vụ ngộ độc trên 30 người) làm 5.664 người mắc và 42 trường hợp tử vong. So sánh với số liệu trung bình/năm của giai đoạn 2006-2009, số vụ NĐTP giảm 9,1%, số mắc giảm 17,6% và số người tử vong giảm 19,2%. Đáng chú ý là trong số 42 người chết, có tới 14 người do uống rượu có Methanol (cồn công nghiệp) chiếm 33,3%, tiếp theo là do ăn phải nấm (23,8%). Ngộ độc do cá nóc cũng còn khá cao (16,7%).

Tiến bộ đáng kể trong quản lý ngộ độc thực phẩm trong năm 2009-2010 là hệ thống thông tin ghi nhận ngộ độc thực phẩm đã thực hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời và các doanh nghiệp để xảy ra ngộ độc tập thể được nhắc nhở, theo dõi, có cam kết và nhiều doanh nghiệp đã đầu tư, cải thiện điều kiện ATTP đối với cơ sở nấu nướng và quy trình chế biến thức ăn. Đã thiết lập được mạng lưới cảnh bảo nhanh có liên hệ chặt chẽ với WHO, FAO, EU và các nước trên Thế giới; bước đầu xây dựng hệ thống phân tích nguy cơ phục vụ quản lý.

Bệnh truyền qua thực phẩm là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và giống nòi do sử dụng lâu dài thực phẩm không bảo đảm ATTP. Hiện có tới 400 các bệnh truyền qua thực phẩm, chủ yếu là tả, lỵ trực trùng, lỵ amip, tiêu chảy, thương hàn, cúm gia cầm... 

Tỷ lệ mắc bệnh giun sán ở nước ta còn rất cao. Có tới hơn 60.000.000 người đang mang giun sán trong người do tập quán ăn uống mất vệ sinh (ăn gỏi cá, ăn rau sống, ăn tiết canh, nộm...). Nhiều bệnh ký sinh trùng gây tác hại rất lớn cho sức khỏe: gây thiếu máu, suy dinh dưỡng, viêm và áp xe gan, rối loạn tiêu hóa, thần kinh và vận động. Bệnh sán lá gan lớn có ở 18 tỉnh, tỷ lệ mắc có nơi tới 37% như Nam Định, Phú Yên... Bệnh sán lá gan nhỏ có ở 24 tỉnh, tỷ lệ nhiễm rất cao như Hà Tây (40%), Thanh Hóa (38%), Nam Định (37%), Ninh Bình (30%), Phú Yên (37%), Bình Định (30%). Ngoài ra, các bệnh ký sinh trùng khác như: giun đũa, giun xoắn, giun kim, bệnh ấu trùng sán, giun cũng còn phổ biến. Đây là các bệnh mà nguồn lây truyền chủ yếu qua đường thực phẩm, ăn uống.

Mặc dù đã có quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo đảm ATTP, quy chế điều tra ngộ độc thực phẩm nhưng việc tuân thủ các quy định này còn chưa nghiêm túc. Ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với sức khỏe cộng đồng còn chưa cao. Còn thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc khắc phục, xử lý hậu quả ngộ độc thực phẩm tập thể và truy cứu trách nhiệm đối với các chủ thể gây ra ngộ độc thực phẩm.

 
V. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM GIAI ĐOẠN 2004-2010

  A. Kết quả đạt được

   Nhìn chung, trong giai đoạn 2004-2010, công tác quản lý nhà nước về chất lượng ATTP đã đạt những kết quả đáng kể trên nhiều lĩnh vực, cụ thể là:

   1. Hệ thống văn bản QPPL về quản lý chất lượng ATTP được ban hành với số lượng lớn tạo hành lang pháp lý để kiểm soát chất lượng ATTP từ “trang trại đến bàn ăn”, đặc biệt dự thảo Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội XII thông qua trong kỳ họp thứ Bảy, bước đầu đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng ATTP và yêu cầu hội nhập quốc tế.

      2. Bộ máy quản lý nhà nước về ATTP đang từng bước được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương. Hệ thống Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm đã được hình thành tại tất cả các đia phương. Công tác phối hợp liên ngành đã có chuyển biến rõ rệt.

      3. Công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm đã được quan tâm đặc biệt. Hệ thống thanh tra chuyên ngành dần hình thành tại Trung ương và cấp tỉnh. Mặc dù lực lượng thanh tra, kiểm tra còn rất mỏng nhưng công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường hơn trước, góp phần kiểm soát có hiệu quả chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong tất cả các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng thực phẩm. Công tác đào tạo nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đã đẩy mạnh,

      4. Hình thành mạng lưới kiểm nghiệm ở Trung ương và khu vực với sự tham gia của nhiều phòng xét nghiệm tư nhân, trang thiết bị kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước đang từng bước được đầu tư, nâng cấp.

      5. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về ATTP đã bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức của nhà quản lý, người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đã được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm.

            6. Công tác quản lý và bảo đảm chất lượng ATTP có tiến bộ rõ rệt: một số nông sản, thực phẩm chủ lực như lúa gạo, ngô... cơ bản đáp ứng yêu cầu ATTP. Điều kiện ATTP tại các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm bước đầu được cải thiện hơn. Diện tích trồng rau an toàn, chăn nuôi quy mô trang trại, số lượng chợ đầu mối, siêu thị kinh doanh thực phẩm tăng dần theo từng năm. Chất lượng ATTP của thực phẩm chế biến công nghiệp được kiểm soát tốt. Ô nhiễm vi sinh vật trong một số sản phẩm thực phẩm tươi sống như rau, thịt, thủy sản... có chiều hướng giảm; số người bị ngộ độc thực phẩm trong một năm có xu hướng giảm dần; tỷ lệ được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP của bếp ăn tập thể, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố có tiến bộ.

B.  Những yếu kém và bất cập trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm 

1. Những mặt yếu kém, bất cập

a) Văn bản quy phạm pháp luật: chưa đồng bộ, còn xảy ra sự chồng chéo, mâu thuẫn, hoặc bỏ sót một số lĩnh vực... gây khó khăn cho việc áp dụng. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ quản lý còn thiếu và chưa cập nhật. Việc chuyển đổi và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia còn chậm.

b) Tổ chức bộ máy cơ quan quản lý chuyên ngành còn chưa hoàn thiện. Lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ thanh tra chuyên ngành  rất mỏng lại phân tán, việc xử lý vi phạm chưa kiên quyết. Tính thống nhất, đồng bộ trong quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm còn chưa cao.

c) Chế tài xử phạt còn nhiều bất cập, chưa cụ thể và chưa có tính răn đe cao.

d) Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tuy đã có chuyển biến song việc triển khai còn thụ động, mới tập trung giải quyết được một số vấn đề bức xúc, chưa chủ động quản lý được nguy cơ ô nhiễm theo chuỗi cung cấp thực phẩm theo một chiến lược dài hạn. Phương thức quản lý thực phẩm còn nhiều bất cập. Chất lượng ATTP của một số sản phẩm thực phẩm chế biến thủ công, quy mô nhỏ tuy có được cải thiện nhưng vẫn là một khâu yếu.

            đ) Thực trạng về tồn dư hóa chất, ô nhiễm hóa chất bảo quản trong một số thực phẩm chưa được cải thiện nhiều. Tỷ lệ cơ sở chế biến, giết mổ gia súc, gia cầm được kiểm soát còn ở mức rất thấp. Tỷ lệ số người sản xuất, kinh doanh dịch vụ, người tiêu dùng nhận thức đúng về ATTP tuy có tiến bộ nhưng ở mức trung bình; trách nhiệm của người sản xuất quy mô nhỏ lẻ đối với sức khỏe cộng đồng chưa cao; tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP và tỷ lệ hàng hóa được cấp chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm ở mức rất thấp;

   e) Đầu tư nguồn lực cho công tác bảo đảm an vệ sinh toàn thực phẩm còn rất hạn chế: kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP ở mức quá thấp; trang thiết bị kiểm nghiệm còn thiếu và lạc hậu; thiếu các phương tiện kiểm tra cơ động và trang thiết bị kiểm tra nhanh. 

    f) Công tác xã hội hóa một số khâu dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước về chất lượng ATTP chưa được quan tâm đúng mức, chưa huy động được sự tham gia của các lực lượng trong xã hội, nhất là sự tham gia của các hội, hiệp hội và doanh nghiệp lớn.

2. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân chủ quan

            - Hệ thống văn bản QPPL về quản lý chất lượng ATTP nhiều, nhưng chưa có văn bản có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh toàn diện các vấn đề về quản lý đồng thời phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác nhau trong khi đây là một lĩnh vực quản lý khó khăn.

- Nhận thức trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng ATTP nên sự chỉ đạo thiếu kiên quyết. Lãnh đạo của các Ban chỉ đạo liên ngành ATTP từ Trung ương đến địa phương hầu hết là kiêm nhiệm. Hiện tại, chưa có quy định gắn trách nhiệm của người đứng đầu các cấp chính quyền với công tác quản lý chất lượng ATTP trên địa bàn quản lý.

- Việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng ATTP của một số bộ còn chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân là do các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng ATTP còn chưa được xây dựng theo khung logic để dễ dàng triển khai theo hệ thống; việc phân công nhiệm vụ chưa đi liền với xây dựng tổ chức bộ máy và đầu tư kinh phí; chưa có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các cơ quan chức năng. Năng lực quản lý của cơ quan nhà nước còn hạn chế; công tác quản lý chất lượng ATTP còn chậm đổi mới; việc triển khai thực hiện văn bản QPPL về ATTP còn chậm. Việc thanh tra, kiểm tra, điều tra xác định nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm còn chưa thường xuyên, kịp thời

- Bộ máy cơ quan quản lý chuyên ngành về ATTP còn chưa hoàn thiện; có nhiều đầu mối tham gia quản lý nhà nước về ATTP nhưng việc phân công trách nhiệm quản lý ATTP ở một số lĩnh vực và đối với một số sản phẩm còn chồng chéo, ví dụ như đối với sữa tươi, chế biến thủy sản. Chưa thiết lập được hệ thống cảnh báo và đánh giá nguy cơ chủ động, có hiệu quả.

- Ý thức chấp hành pháp luật về quản lý chất lượng ATTP và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng còn chưa cao, một mặt là do người sản xuất, kinh doanh chạy theo lợi nhuận trước mắt, coi thường tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng; mặt khác do việc xử lý vi phạm còn nương nhẹ, chưa kiên quyết. 

- Vai trò của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã chưa được coi trọng, cấp xã chưa được phân bổ kinh phí để hoạt động. Công tác chỉ đạo, điều hành còn chưa đồng bộ, chưa kiên quyết, trách nhiệm chưa rõ ràng nên một số vấn đề rất bức xúc nhưng vẫn không được giải quyết dứt điểm.

- Mặc dù có nhiều cố gắng và quan tâm của nhà nước, song đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý. Ngân sách cho quản lý chất lượng ATTP chưa được tách thành mục riêng trong chi ngân sách, lại phân tán nên việc chi cho công tác quản lý chất lượng ATTP thiếu tính đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Nhiều nước trong khu vực như Thái lan, đầu từ cho ATTP bình quân đầu người là 1 USD/năm, đây cũng là mức trung bình của khu vực.

- Phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ kiểm tra nhà nước về chất lượng ATTP còn thiếu và lạc hậu; trình độ cán bộ chuyên môn và năng lực phân tích của các phòng thử nghiệm trong nước còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, vẫn còn phải thuê phòng thử nghiệm ở nước ngoài phân tích đối với một số chỉ tiêu phân tích hóa chất độc hại trong thực phẩm.

- Công tác xã hội hoá một số khâu dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước về chất lượng ATTP chưa được cụ thể hóa thành chính sách để huy động nguồn lực về chuyên môn, tài chính từ các tổ chức hội, hiệp hội, doanh nghiệp, các viện, trường đại học, v.v...

- Công tác nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược quản lý chất lượng ATTP; công tác quy hoạch các vùng sản xuất thực phẩm an toàn; cảnh báo, kiểm soát nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm chưa được chú trọng đúng mức.

b) Nguyên nhân khách quan

            - Do nước ta đang chuyển đổi từ nền sản xuất quy mô nhỏ lẻ sang nền sản xuất hàng hóa; công nghệ sản xuất, chế biến thực phẩm còn thủ công; quy hoạch cho sản xuất thực phẩm chưa được xây dựng đồng bộ nên việc bảo đảm ATTP còn gặp nhiều khó khăn. Hiện cả nước có khoảng 9,4 triệu hộ sản xuất kinh doanh thực phẩm. Điều này đặt ra cho công tác quản lý ATTP những thách thức hết sức to lớn.

- Do tập quán ăn uống, trình độ dân trí, đặc biệt là do thu nhập thấp nên vẫn còn tình trạng người tiêu dùng sử dụng thực phẩm giá rẻ, không bảo đảm ATTP còn khá phổ biến.

- Sự gia tăng số lượng nhà máy, các khu công nghiệp lớn, tập trung người lao động tác động trực tiếp tới vấn đề ATTP của các bếp ăn tập thể của khu công nghiệp, quá trình đô thị hóa cũng tác động không nhỏ đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Do bảo vệ môi trường còn chưa theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nên môi trường nói chung và môi trường đất, nước để trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nói riêng vẫn còn bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, áp lực của việc nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng cũng làm tăng việc sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất thực phẩm. Đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm thực phẩm, tồn dư hóa chất trong sản phẩm thực phẩm.

- Nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm “từ trang trại đến bàn ăn”; việc quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn chưa gắn với thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, xuất xứ địa lý của sản phẩm nên thực phẩm an toàn chưa tạo được niềm tin cho người tiêu dùng, giá thành cao khó cạnh tranh với thực phẩm thông thường, vì vậy chưa tạo động lực cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn.

            - Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu thương mại hàng hóa nói chung và thực phẩm nói riêng; đồng thời việc có hơn 4.500 km đường biên giới trên đất liền, nhiều cửa khẩu đường sông, biển nên việc kiểm soát hàng hóa thực phẩm nhập khẩu rất khó khăn, đặc biệt là kiểm soát thực phẩm nhập khẩu qua đường tiểu ngạch.

 

VI. DỰ BÁO TÌNH HÌNH ATTP GIAI ĐOẠN 2011-2020

            Trong giai đoạn 2011-2020, mặc dù kinh tế thế giới vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn sau khi có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển toàn diện cả về chiều rộng và chiều sâu, tạo điều kiện mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và công nghệ, đồng thời cung nâng mức độ cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trước mắt như:

            - Sự ra tăng dân số sẽ đe dọa an ninh lương thực và làm cạn kiệt tài nguyên, nguồn nước uống; hệ sinh thái cũng bị mất cân bằng, cách ăn uống truyền thống cũng thay đổi làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm của cộng đồng.

            - Quá trình biến đổi khí hậu gia tăng, sự nóng lên của bề mặt trái đất cũng sẽ kéo theo sự gia tăng các vụ ngộ độc thực phẩm có nguồn gốc vi sinh vật. Sự phát triển không bền vững, việc khai thác các nguồn tài nguyên quá mức, buông lỏng kiểm soát môi trường trong nửa cuối thế kỷ 20 tiếp tục để lại những hậu quả hết ức nặng nề cho thế kỷ 21. Hóa chất độc hại làm ô nhiễm nặng nề đất, nước, ô nhiễm vào sản xuất thực phẩm làm phát triển các bệnh ung thư, nhiễm độc mạn tính, quái thai, dị ứng...

            - Các nước trên thế giới đầu tư mạnh vào nghiên cứu sử dụng các sản phẩm thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chiếu xạ, sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, các thuốc kháng sinh được ứng dụng để tăng năng suất vật nuôi, cây trồng nhưng lại làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Do đó người tiêu dùng và các nước nhập khẩu thực phẩm ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, đảm bảo ATTP, các nước đều tăng cường bảo hộ cho sản xuất trong nước.


PHẦN THỨ HAI

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA AN TOÀN THỰC PHẨM

GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 VÀ TẦM NHÌN 2030

 

I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH TRONG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM

A. Quan điểm

1. Bảo đảm an toàn thực phẩm có tác động lớn tới sức khỏe của người dân, sự phát triển kinh tế và là mối quan tâm của toàn xã hội. Do đó, công tác này phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền.

2. Đầu tư cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm là đầu tư phát triển, là đầu tư có hiệu quả, góp phần tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội trực tiếp và gián tiếp.

3. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm đòi hỏi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, trong đó trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực này đóng một vai trò then chốt. Do đó, hoàn thiện và tăng cường đủ mạnh đối với hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là yếu tố tiên quyết đảm bảo sự thành công và hiệu quả trong hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm.

B. Định hướng

1. Bảo đảm an toàn thực phẩm cần được thực hiện toàn diện, xuyên suốt theo “chuỗi cung cấp thực phẩm” trên cơ sở từng bước áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến trong sản xuất, chế biến, phân phối, kinh doanh thực phẩm.

2. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, hướng dẫn, phổ biến việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm là giải pháp cơ bản, trọng tâm, đi trước một bước trong các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và đạo đức của mỗi người sản xuất, kinh doanh thực phẩm là yếu tố nền tảng bảo đảm hiệu quả của công tác này.

3. Xã hội hóa sâu rộng và tạo điều kiện cho các hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài tham gia vào các hoạt động khoa học, công nghệ, hướng dẫn, đào tạo trên các lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến.

4. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia bảo đảm ATTP.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Đến năm 2015, các quy hoạch tổng thể về ATTP từ sản xuất đến tiêu dùng được triển khai trên cơ sở hệ thống quản lý đủ mạnh, có hiệu lực, có tác động rõ rệt và toàn diện tới việc cải thiện tình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm ở nước ta.

Đến năm 2020, về cơ bản, việc kiểm soát ATTP trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm được thiết lập và phát huy hiệu quả, chủ động trong việc bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

2. Mục tiêu cụ thể

            a) Mục tiêu 1: Nâng cao kiến thức hiểu biết và thực hành về an toàn thực phẩm của các nhóm đối tượng

Chỉ tiêu:

- Người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm đạt 80% vào năm 2015 và 90% vào năm 2020

- Người quản lý có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm đạt 100% vào năm 2015 và duy trì

- Người tiêu dùng có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm đạt 80% vào năm 2015 và  90% vào năm 2020

b) Mục tiêu 2: Ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng ngộ độc thực phẩm cấp tính và các bệnh truyền qua thực phẩm

Chỉ tiêu:

            Giảm 20% số vụ ngộ độc thực phẩm cấp tính được ghi nhận ≥ 30 người mắc vào năm 2015 và 30-35% vào năm 2020 so với năm 2010.

c) Mục tiêu 3: Cải thiện rõ rệt tình trạng bảo đảm  an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm

Chỉ tiêu:

- Đến năm 2015, 40% tỉnh, thành phố phê duyệt và triển khai quy hoạch và đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầng các vùng sản xuất thực phẩm an toàn (tập trung vào đối tượng rau, chè, thịt và thủy sản tiêu thụ nội địa) và đạt 90% vào năm 2020.

- Đến năm 2015, 30% cơ sở trồng trọt áp dụng VietGAP, 10% cơ sở chăn nuôi áp dụng VietGAP; 10% cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung thực hiện kiểm soát chất lượng, ATVSTP, tỷ lệ trên tương ứng tăng gấp đôi vào năm 2020.

- Đến năm 2020, 60-70% cơ sở nuôi/vùng nuôi thâm canh, 20% cơ sở nuôi/vùng nuôi quảng canh được công nhận BMP/GaqP/CoC. 100% vùng nuôi thủy sản chủ lực, tập trung có sản lượng hàng hóa lớn phục vụ cho chế biến công nghiệp; 50-60% diện tích sản xuất rau, chè áp dụng ViệtGAP.

-  Đến năm 2015, 50% vùng nuôi nhỏ lẻ được giám sát dư lượng hóa chất độc hại và đạt 80% vào năm 2020..

- Đến năm 2015, Tỉ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp, tập trung được cấp giấy đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đạt 80% và đạt 100% vào năm 2020.

- Đến năm 2015, tỉ lệ cơ sở sản xuất, bảo quản, sơ chế, chế biến thực phẩm quy mô tập trung áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm (GMP, HACCP, ISO 9001, ISO 22000…) tăng 20% và tăng 60% đến năm 2020 so với năm 2010.

- Đến năm 2015, tỉ lệ cơ sở sản xuất, bảo quản, sơ chế, chế biến thực phẩm quy mô nhỏ lẻ áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm (GMP, HACCP, ISO 9001, ISO 22000…) tăng 10% và tăng 40% đến năm 2020 so với năm 2010.

- Đến năm 2015, 50% cảng cá, tàu cá từ 90CV trở lên, cơ sở sản xuất nước đá độc lập phục vụ chế biến thủy sản cơ sở thu mua nguyên liệu và đạt tỷ lệ 80% vào năm 2020.

d) Mục tiêu 4: Cải thiện rõ rệt tình trạng bảo đảm  an toàn thực phẩm của các cơ sở kinh doanh thực phẩm

Chỉ tiêu:

- Tỷ lệ các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể được cấp giấy đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đạt 40% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020.

- Tỉ lệ siêu thị được kiểm soát an toàn thực phẩm đạt 50% vào năm 2015 và đạt trên 70% vào năm 2020.

- Tỉ lệ chợ được quy hoạch và kiểm soát an toàn thực phẩm (không bao gồm chợ cóc) đạt 50% vào năm 2015 và đạt trên 70% vào năm 2020.

e)Mục tiêu 5: Tăng cường năng lực của hệ thống quản lý an toàn thực phẩm

Chỉ tiêu:

- Thanh tra chuyên ngành ATTP tại 63/63 tỉnh, thành phố được giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành về ATTP thực hiện với trên 80% cán bộ được tập huấn nghiệp vụ (2015) và 100% (2020)- 100%

- Phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm cấp Trung ương và khu vực đạt chuẩn ISO 17025 vào năm 2015 và duy trì; 20% số tỉnh có phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO 17025 vào năm 2015 và 50% số tỉnh đạt vào năm 2020.

- Hệ thống cảnh báo, quản lý nguy cơ ô nhiễm thực phẩm hoạt động có hiệu quả tại trung ương và 50% số tỉnh vào 2015, đạt 100% vào năm 2020.

 

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

A. Nhóm giải pháp về xã hội

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác bảo đảm an toàn thực phẩm

a) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác bảo đảm ATTP

- Khẳng định vai trò của các cấp ủy Đảng, Chính quyền  trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Các cấp ủy Đảng thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo đưa công tác này.

- Đưa chỉ tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương, của các cấp, các ngành và coi đây là các chỉ tiêu phát triển cần được ưu tiên thực hiện. Đưa công tác bảo đảm ATTP vào nội dung thảo luận ở các kỳ đại hội và các văn kiện, nghị quyết và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng.

- Ban hành các văn bản, chỉ thị của các cấp ủy Đảng chỉ đạo đối với công tác bảo đảm ATTP.

- Phát huy tính chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác bảo đảm ATTP. Đưa công tác bảo đảm ATTP thành một trong những nội dung thường kỳ của các cuộc họp chi bộ.

b) Tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác bảo đảm ATTP

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của các đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội cũng như Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác bảo đảm ATTP.

- Hội đồng nhân dân các cấp có các Nghị quyết về công tác bảo đảm ATTP.   Công tác bảo đảm ATTP được báo cáo tại các kỳ họp định kỳ hàng năm của Hội đồng nhân dân các cấp.

c) Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện công tác bảo đảm ATTP

- Công tác bảo đảm ATTP là một trong các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của Chính phủ, đôn đốc chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp tích cực triển khai các biện pháp đảm bảo ATTP.

 - Ủy ban nhân dân các cấp thường xuyên chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác bảo đảm ATTP chịu trách nhiệm toàn diện đối với công tác này. Lồng ghép các chương trình công tác bảo đảm ATTP vào chương trình dinh dưỡng và các chương trình khác; ưu tiên cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

   2. Giải pháp về pháp luật và chính sách trong công tác bảo đảm ATTP

   a) Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm

- Ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm để sớm đưa Luật vào cuộc sống ngày sau khi có hiệu lực. Sửa đổi một số luật có liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất.

- Ban hành các thông tư hướng dẫn và các văn bản quy định khác phục vụ công tác quản lý phù hợp với Luật an toàn thực phẩm và các yêu cầu của hội nhập quốc tế.

- Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác soát xét, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn Việt Nam mới về thực phẩm. Đẩy mạnh công tác chuyển dịch một số tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật mới của Quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, hướng dẫn kịp thời và có các giải pháp đồng bộ áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật an toàn thực phẩm.

- Tăng cường việc giáo dục, phổ biến pháp luật về ATTP.

b) Từng bước hoàn thiện chế độ, chính sách trong công tác bảo đảm ATTP

- Ban hành chế độ, chính sách phù hợp cho đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnh vực bảo đảm ATTP.

- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương trong quản lý và thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về ATTP.

- Chính phủ có chính sách phát triển vùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm theo hướng sản xuất lớn, gắn với việc phát triển thị trường hàng hóa nông sản an toàn; khuyến khích, hỗ trợ hoặc cho vay vốn để các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn.

- Có chính sách và quy định cụ thể của các bộ, ngành liên quan hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.

B. Nhóm giải pháp chuyên môn kỹ thuật

1. Thông tin, giáo dục và truyền thông về ATTP

a) Tiếp tục triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi

- Tận dụng tối đa hệ thống thông tin, tuyên truyền sẵn có ở địa phương, bổ sung chức năng và cán bộ chuyên trách về truyền thông, giáo dục ATTP.

- Xây dựng chuyên mục ”an toàn thực phẩm” trên truyền hình ở Trung ương và địa phương.

- Phân công cụ thể trách nhiệm thực hiện công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho từng Bộ, ngành. Các Bộ, ngành và đoàn thể có trách nhiệm lập kế hoạch và triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông cho các nhóm đối tượng đặc thù của ngành mình.

- Ủy ban nhân dân các cấp tăng cường chỉ đạo, triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi, chú ý tập trung các khu vực, các địa phương trọng điểm về an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Tổ chức các chiến dịch truyền thông với quy mô lớn trên toàn quốc, đưa công tác giáo dục truyền thông về ATTP vào các ngày lễ, các sự kiện lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hàng năm của đất nước.

b) Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông về ATTP

- Sử dụng cách tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể để tuyên truyền, vận động, chú trọng hình thức truyền thông trực tiếp, truyền thông theo nhóm nhỏ.

- Xây dựng đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền ATTP, chú trọng phát triển đội ngũ tuyên truyền viên thuộc các đối tượng là người của các tôn giáo khác nhau và những người dân tộc thiểu số, xây dựng hệ thống cán bộ chuyên trách tại các Bộ, ngành.

- Đào tạo kiến thức chuyên ngành, nội dung tuyên truyền ATTP cho người tham gia công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục ATTP.

c) Nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông

- Hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật cho các ban, ngành liên quan trong việc biên tập mới, sửa đổi, bổ sung, cập nhật thông tin, kiến thức mới về ATTP.

- Các tài liệu, thông điệp truyền thông cần tập trung vào các nội dung mang tính hướng dẫn, định hướng thay đổi hành vi và các biện pháp thực hiện hành vi bảo đảm ATTP, phù hợp với từng đối tượng.

- Đa dạng hóa các loại hình truyền thông: bản tin, phim tài liệu, phóng sự, các trò chơi, xây dựng các tờ rơi, tờ gấp, poster... xuất bản các ấn phẩm bằng các thứ tiếng, ngôn ngữ để giáo dục, tuyên truyền cho đồng bào ít người, dân tộc thiểu số và người khuyết tật.

- Các Bộ, ngành chỉ đạo các cấp theo ngành dọc chủ động lập kế hoạch đầu tư kinh phí cho việc sản xuất các tài liệu truyền thông phục vụ hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi của ngành mình phụ trách.

- Xây dựng hệ thống ngân hàng dữ liệu giáo dục và truyền thông bằng cách tăng cường liên kết với các chương trình khác để tận dụng nguồn nhân lực và kinh phí chuyển tải các thông điệp truyền thông xuống cộng đồng.

2. Tăng cường năng lực của hệ thống quản lý nhà nước về ATTP

a) Tiếp tục kiện toàn Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục quản lý chất lượng Nông, Lâm sản và Thủy sản và Chi cục Quản lý thị trường tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

b) Tăng cường năng lực cho hoạt động thanh tra chuyên ngành ATTP từ Trung ương đến địa phương.

c) Thành lập Trung tâm An toàn vệ sinh thực phẩm tại một số Quận, huyện trên cả nước.

d) Củng cố, kiện toàn các cơ quan kiểm tra nhà nước về ATTP và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về ATTP tham gia kiểm định, giám định chất lượng hàng hóa; thiết lập hệ thống thông tin liên thông giữa các cơ quan kiểm tra nhà nước để tránh việc trốn hoặc chuyển khẩu trong thực hiện kiểm tra nhà nước.

đ) Tiếp tục phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương trong quản lý ATTP, các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương chỉ tập trung xây dựng chính sách quản lý vĩ mô, thanh tra kiểm tra và giải quyết các vấn đề đối ngoại, giải quyết các rào cản của thị trường.

3. Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP

            a) Hoàn thiện các thể chế, các quy định để kiểm soát được ATTP trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm.

            b) Tăng cường thanh tra, kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh hóa chất bảo vệ thực vật và các vật tư nông nghiệp khác, bảo đảm sử dụng đúng chất lượng, chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly của các loại vật tư nông nghiệp sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản, chế biến nông sản thực phẩm.

            c) Tổ chức thường xuyên giám sát, kiểm tra tồn dư hoá chất độc hại trong nông sản, thuỷ sản thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ giết mổ và vệ sinh thú y, vệ sinh thuỷ sản; kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ, siêu thị, đặc biệt là các chợ đầu mối.

            d) Tăng cường kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn việc kinh doanh hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, có nguồn gốc nhập lậu và gian lận thương mại, hàng thực phẩm vi phạm pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm.

            đ)Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP; có cơ chế phối hợp hoạt động giữa lực lượng thanh tra của các bộ với lực lượng quản lý thị trường.

e) Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm.

            g) Nghiên cứu, thực hiện các biện pháp kiểm soát ATTP theo yêu cầu của các thị trường xuất khẩu phù hợp các qui định quốc tế.

h) Xây dựng các biện pháp, yêu cầu kỹ thuật để kiểm soát chặt chẽ nông lâm thủy sản nhập khẩu phục vụ sản xuất và tiêu dùng.

3. Tăng cường năng lực hệ thống kiểm nghiệm ATTP:

a) Nâng cao tỷ lệ số phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO 17025 và GLP. Tăng số chỉ tiêu vi sinh, hóa lý được kiểm nghiệm tại các labo.

b) Tiếp tục đầu tư về hạ tầng, trang thiết bị cho các Labo của trung ương đủ năng lực đóng vai trò là labo kiểm chứng về ATTP. Đầu tư kinh phí nâng cấp một số phòng thí nghiệm để đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư mới các phòng thí nghiệm...

c) Tăng cường đầu tư trạng thiết bị cho các tuyến, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị kiểm nghiệm ATTP nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

d) Phát triển các mô hình đầu tư liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ với các hãng sản xuất trang thiết bị xét nghiệm có uy tín trên thế giới.

đ) Tăng cường chia sẻ thông tin giữa các phòng kiểm nghiệm quốc gia, khu vực, các phòng kiểm nghiệm quốc tế nhằm phổ biến kinh nghiệm hoạt động xét nghiệm đảm bảo ATTP

4. Tiếp tục triển khai và nhân rộng trong toàn quốc các mô hình quản lý ATTP tiên tiến:

a) Áp dụng các thực hành sản xuất tốt trong sản xuất rau, quả, chè và chăn nuôi gia súc, gia cầm và xúc tiến các hoạt động chứng nhận.

b) Hoàn thiện các quy trình thực hành sản xuất tốt (VietGAP, VietGAHP) và các sổ tay hướng dẫn GAP, GAHP trong rau, quả, chè và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

c) Xây dựng các quy định về kiểm tra chứng nhận VietGAP, VietGAHP; đánh giá, chỉ định, giám sát hoạt động của các tổ chức chứng nhận, hỗ trợ chứng nhận VietGAP, GAHP; tổ chức đào tạo, tâp huấn; chi phí lấy mẫu, phân tích, đánh giá chất lượng đất; chi phí kiểm tra nội bộ, chi phí chứng nhận.

d) Thử nghiệm và nhân rộng các mô hình áp dụng thực hành sản xuất tốt trong sản xuất rau, quả, chè và chăn nuôi gia súc, gia cầm gắn với chứng nhận và công bố tiêu chuẩn chất lượng.

đ) Nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, tư vấn và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng ATTP tiên tiến (GMP, GHP, HACCP, ISO 22000)

5. Nâng cao năng lực hệ thống phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm; xây dựng hệ thống cảnh báo và phân tích nguy cơ ATTP.

a) Tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm từ  trung ương đến cơ sở.

b) Phòng ngừa và xử lý có hiệu quả các vụ ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm.

c) Từng bước xác định nguy cơ chủ yếu gây mất an toàn thực phẩm và ngộ độc thực phẩm và quản lý có hiệu quả các nguy cơ đó.

d) Kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về ATTP, đặc biệt các quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở bếp ăn tập thể, cơ sở cung cấp xuất ăn sẵn, nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, lễ hội, thức ăn đường phố, chợ, cảng, trường học, khu công nghiệp và chế xuất; quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị có cơ sở dịch vụ ăn uống, kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cung ứng dịch vụ ăn uống; xử lý nghiêm các vi phạm.

đ) Tăng cường công tác chứng nhận đủ điều kiện ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

            C. Nhóm giải pháp về nguồn lực

1. Tăng cường đào tạo, tập huấn cho mạng lưới triển khai ATTP:

a) Tăng cường biên chế cho đội ngũ chuyên trách ATTP của các tuyến, đủ khả năng quản lý và điều hành các hoạt động bảo đảm ATTP trên phạm vi toàn quốc

b) Đẩy mạnh công tác đào tạo tại các trường đại học, có mã ngành đào tạo hệ cao đẳng, đại học. Tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm ATTP tại các tuyến; Từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, trên đại học.

c) Bồi dưỡng, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý ATTP.

đ) Đưa nội dung đào tạo, nghiên cứu chuyên ngành về quản lý ATTP vào chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học của các trường đại học, viện nghiên cứu.

e) Duy trì hoạt động Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP ở Trung ương và địa phương. Thành lập Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo ở địa phương, trong đó ngành y tế làm đầu mối tổ chức các hoạt động phối hợp liên ngành.

2. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học

a) Các viện nghiên cứu, các trường đại học tập trung các đề tài nghiên cứu xác định, đánh giá và các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện tình trạng an toàn thực phẩm.

b) Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác nghiên cứu khoa học về lĩnh vực an toàn thực phẩm

3. Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc ký kết các điều ước quốc tế, các thỏa thuận song phương, đa phương trong lĩnh vực ATTP

            a) Mở rộng hợp tác quốc tế trong công tác bảo đảm ATTP: củng cố các mối quan hệ hợp tác đã có, đồng thời tìm kiếm các khả năng hợp tác mới theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ với các tổ chức liên hợp quốc, song phương, đa phương trong công tác bảo đảm ATTP.

            b) Thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương và trong các nước ASEAN.

c) Hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng để cùng giải quyết các vấn đề cấp bách chung.

d) Đẩy mạnh các hợp tác ở cấp độ tuyến tỉnh, thành phố, giữa các tỉnh, thành phố Việt Nam và các tỉnh, thành phố nước ngoài.

đ) Cung cấp thông tin đầy đủ, cập nhật kịp thời cho các đại diện ngoại giao, các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài để tìm kiếm, mở rộng khả năng hợp tác.

4. Xã hội hóa công tác bảo đảm ATTP

a) Duy trì cam kết bảo đảm ATTP vì trách nhiệm công đồng, đặt sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng là tôn chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

b) Đi đầu trong việc áp dụng các quy trình HACCP, ISO, GAPS … và các cải tiến thích hợp nhằm nâng cao, cải thiện chất lượng ATTP.

c) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc cảnh báo, kiểm sóat nguy cơ và phòng chống ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm.

d) Đẩy mạnh xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý CLATTP; phát huy vai trò của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia bảo đảm CLATTP,... 

đ) Ban hành chính sách, danh mục và lộ trình xã hội hóa các dịch vụ phục vụ quản lý ATTP.

            e) Hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá, công nhận các tổ chức xã hội làm dịch vụ phục vụ quản lý ATTP thuộc các thành phần kinh tế.

g) Tổ chức đánh giá năng lực các tổ chức kiểm nghiệm, các tổ chức chứng nhận chất lượng ATTP hiện có để chỉ định các cơ sở đáp ứng yêu cầu tham gia kiểm tra, chứng nhận về ATTP.

5. Tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác bảo đảm ATTP:

a) Đầu tư ngân sách nhà nước

- Có mục chi riêng ngân sách cho quản lý ATTP trong mục lục ngân sách nhà nước hàng năm.

- Bảo đảm cấp đủ ngân sách nhà nước cho hoạt động quản lý nhà nước về ATTP, chú trọng đầu tư cho công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP, trang thiết bị kiểm nghiệm, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP, tuyên truyền phổ biến kiến thức và pháp luật về ATTP,…

- Tăng dần mức đầu tư và huy động ngày một nhiều hơn nguồn kinh phí cho công tác bảo đảm ATTP, phấn đấu đạt 15.000 đồng/người/năm vào năm 2015 và 20.000 đồng/ người/năm (tương đương 1 USD) vào năm 2020.

- Các khoản ngân sách trên sẽ được huy động từ các nguồn: kinh phí nhà nước, bao gồm cả kinh phí địa phương đóng góp, kinh phí viện trợ và kinh phí huy động từ các nguồn khác.

- Sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí. Phân cấp về quản lý ngân sách đảm bảo tính chủ động của địa phương trong việc triển khai thực hiện công tác bảo đảm ATTP.

b) Huy động nguồn lực trong các hoạt động bảo đảm ATTP:

- Tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho công tác bảo đảm ATTP. Chính phủ lồng ghép các hoạt động kêu gọi vận động tài trợ trong các hội nghị, hội thảo quốc tế ở các lĩnh vực khác.

- Xây dựng các chính sách ưu tiên trong việc xem xét, phê duyệt các đề án, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ATTP để bảo đảm việc thực hiện dự án được triển khai đúng tiến độ.

- Phát huy tính chủ động quốc gia trong việc điều phối, quản lý, sử dụng các dự án viện trợ, đảm bảo các dự án phải theo đúng chương trình mục tiêu quốc gia, bám sát các chỉ tiêu và chương trình hành động quốc gia để hỗ trợ.

- Ưu tiên cho các dự án hợp tác quốc tế về hỗ trợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao các công nghệ hiện đại.

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN

1. Chương trình Mục tiêu quốc gia an toàn vệ sinh thực phẩm giai đoạn 2011-2015, bao gồm các dự án:

- Dự án Nâng cao năng lực quản lý chất lượng VSATTP;

- Dự án Thông tin giáo dục truyền thông bảo đảm chất lượng VSATTP;

- Dự án Tăng cường năng lực hệ thống kiểm nghiệm chất lượng VSATTP;

- Dự án Phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm;

- Dự án Bảo đảm VSATTP trong sản xuất nông, lâm, thủy sản;

- Dự án Bảo đảm VSATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành công thương.

2. Chương trình đào tạo chuyên ngành ATTP.

3. Đề án kiểm soát ATTP và bảo vệ môi trường đối với hàng hóa thực phẩm nhập khẩu

4. Đề án xây dựng hệ thống cảnh báo nhanh và phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm

5. Đề án Đầu tư nâng cao năng lực cho hệ thống quản lý ATTP từ trung ương đến địa phương.

6. Đề án nâng cao năng lực thanh tra chuyên ngành ATTP.

7. Đề án phát triển nông, lâm sản thực phẩm đảm bảo ATTP.

8. Đề án bảo đảm ATTP trong giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm.

9. Đề án quy hoạch phát triển ngành thủy sản phục vụ tiêu dùng nội địa.

10. Đề án phòng chống thực phẩm giả, thực phẩm có nguồn gốc nhập lậu.

11. Đề án chợ bảo đảm an toàn thực phẩm.

12. Chương trình thí điểm quản lý dịch vụ ăn uống  tại  các quận, thị xã của thành phố Hà Nội (do UBND thành phố Hà Nội chủ trì).

13. Chương trình thí điểm  thực hiện phương án quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh (do UBND thành phố Hồ Chí Minh chủ trì).

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

a) Chỉ đạo các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp dưới có biện pháp kiểm soát ATTP đối với các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, hướng dẫn, giám sát các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ chấp hành các quy định của pháp luật về ATTP.

            b) Xây dựng và xác lập các mục tiêu bảo đảm ATTP trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố.

c) Xây dựng vùng sản xuất, chế biến nông sản thực phẩm an toàn và các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường.

            d) Chỉ đạo, triển khai và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về ATTP, đặc biệt các quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở bếp ăn tập thể, cơ sở cung cấp xuất ăn sẵn, nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, lễ hội, thức ăn đường phố, chợ, cảng, trường học, khu công nghiệp và chế xuất; quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị có cơ sở dịch vụ ăn uống, kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cung ứng dịch vụ ăn uống; xử lý nghiêm các vi phạm.

            Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm theo quy định của pháp luật.

            đ) Chủ động chỉ đạo triển khai công tác giáo dục, phổ biến kiến thức và thực hành về ATTP đến các nhóm đối tượng phù hợp với điều kiện của địa phương; lồng ghép nội dung bảo đảm ATTP vào tiêu chuẩn công nhận làng văn hoá, gia đình văn hoá.

            e) Trực tiếp chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung và các chương trình    hành động của Chiến lược quốc gia bảo đảm ATTP giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020. Chủ động xây dựng các dự án, chương trình bảo đảm ATTP của địa phương.

            g) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm từ cấp tỉnh đến cấp xã, trong đó ngành y tế đóng vai trò đầu mối, thường trực thực hiện việc giám sát, kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch của các cấp, các ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

h) Chỉ đạo bố trí nhân lực quản lý ATTP đến tuyến xã, phường, thị trấn; tăng cường đầu tư ngân sách địa phương cho các hoạt động bảo đảm ATTP ở địa phương.

2. Bộ Y tế

a) Là cơ quan chủ trì, có trách nhiệm hướng dẫn việc triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia  ATTP giai đoạn  20112020 và tầm nhìn 2030.

b) Thực hiện tốt vai trò là Cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ATTP.

c) Là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra đối với toàn bộ các khâu từ sản xuất tới tiêu dùng; kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trách nhiệm được phân công về bảo đảm ATTP.

d) Điều phối việc thực hiện chiến lược trong phạm vi, quyền hạn được giao.

đ) Xây dựng và triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia an toàn vệ sinh thực phẩm giai đoạn 2011-2015; Chương trình đào tạo chuyên ngành an toàn thực phẩm; Đề án kiểm soát ATTP và bảo vệ môi trường đối với hàng hóa thực phẩm nhập khẩu; Đề án xây dựng hệ thống cảnh báo nhanh và phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm; Đề án Đầu tư nâng cao năng lực cho hệ thống quản lý An toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương và Đề án nâng cao năng lực thanh tra chuyên ngành An toàn thực phẩm.

e) Định kỳ kiểm điểm các hoạt động và tổ chức đánh giá kết quả thực hiện chiến lược.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

a) Chỉ đạo xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu sản xuất nông sản thực phẩm an toàn; triển khai áp dụng các quy trình sản xuất phù hợp đối với các hộ sản xuất nông sản thực phẩm nhỏ lẻ.

            b) Tăng cường thanh tra, kiểm soát chặt chẽ ATTP các khâu từ sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm.

            c) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm khi có xảy ra ngộ độc thực phẩm, quản lý nguy cơ ô nhiễm thực phẩm.

d) Xây dựng và trình Chính phủ Đề án phát triển nông, lâm sản thực phẩm đảm bảo ATTP; Đề án bảo đảm ATTP trong giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm và Đề án quy hoạch phát triển ngành thủy sản phục vụ tiêu dùng nội địa.

đ) Triển khai quản lý các mặt hàng thực phẩm trong phạm vi được phân công quản lý.

4. Bộ Công thương

a) Chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ, siêu thị, đặc biệt là các chợ đầu mối.

b) Kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn việc kinh doanh hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, nhập lậu.

c) Chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng và trình Chính phủ Đề án phòng chống thực phẩm giả, thực phẩm có nguồn gốc nhập lậu và Đề án chợ bảo đảm an toàn thực phẩm.

d) Triển khai quản lý các mặt hàng thực phẩm trong phạm vi được phân công quản lý.

            5. Bộ Khoa học và Công nghệ

Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, rà soát và đưa ra các quy định thực hiện việc chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và các quy định  liên quan đến chất lượng, tiêu chuẩn và nhãn sản phẩm thực phẩm.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo

a) Chỉ đạo bảo đảm ATTP trong hệ thống các trường học. Kiểm soát chặt chẽ việc cung ứng các dịch vụ ăn uống trong các trường học.

b) Chủ động xây dựng các mô hình bếp ăn bảo đảm ATTP ở các trường học gắn với phong trào dạy tốt, học tốt và các phong trào khác của ngành giáo dục.

c) Phối hợp với Bộ Y tế tổ chức tuyên truyền, giáo dục về ATTP trong các trường học, đồng thời huy động giáo viên và học sinh tham gia tích cực công tác bảo đảm ATTP. Xây dựng lộ trình đưa nội dung ATTP vào giáo trình giảng dạy ở các cấp học.

7. Bộ Thông tin và Truyền thông

            a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.

            b) Chỉ đạo hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình các cấp từ Trung ương đến cấp xã, các đội thông tin lưu động, đặc biệt Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, hệ thống truyền thanh ở xã, phường dành thời lượng thích đáng, thời gian phát sóng phù hợp để phổ biến kiến thức, quy định pháp luật và các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân.

8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bố trí các nguồn lực cho lĩnh vực ATTP, kể cả các nguồn viện trợ quốc tế, vốn ODA. Theo dõi, giám sát thực hiện chiến lược.

9. Bộ Tài chính

Bố trí đủ ngân sách cho các hoạt động thực hiện Chiến lược, các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch, quy hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí; chủ trì phối hợp với Bộ Y tế và các cơ quan liên quan xây dựng chính sách thúc đẩy xã hội hóa, khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư vào lĩnh vực ATTP.

10. Bộ Nội vụ

Chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan và chỉ đạo các địa phương đảm bảo biên chế cho hệ thống quản lý ATTP, xây dựng trình Chính phủ phê duyệt chế độ ưu đãi nghề cho cán bộ làm công tác ATTP

11. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo chức năng và nhiệm vụ được giao

a) Tham gia công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và thực hành về ATTP cho đồng bào dân tộc khu vực đóng quân, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

b) Chỉ đạo các lực lượng công an, bộ đội biên phòng phối hợp với lực lượng hải quan và cơ quan của địa phương kiểm soát ngăn chặn việc nhập lậu thực phẩm qua biên giới.

c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan phát hiện, điều tra xử lý và hỗ trợ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ATTP.

12. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan truyền thông, chỉ đạo các Đài Truyền hình, Đài phát thanh các cấp đưa thông tin về ATTP thành nội dung thường xuyên của chương trình phát sóng. Xây dựng các chuyên mục, chuyên đề về bảo đảm ATTP, chủ động đầu tư kinh phí cho việc xây dựng và phát sóng các chương trình về bảo đảm ATTP.

13. Mặt trận tổ quốc Việt nam

Triển khai công tác vận động, giáo dục phát động các phong trào an toàn thực phẩm gắn với cuộc vận động xây dựng làng, xã văn hóa ở khu dân cư, nhằm thúc đẩy hình thành hành vi sản xuất, chế biến, kinh doanh, tiêu dùng các sản phẩm nông, lâm, thủy sản an toàn trong cộng đồng.

14. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam

a) Chủ trì phát động phong trào phụ nữ trong toàn quốc tham gia vào công tác bảo đảm ATTP.

b) Chủ trì tổ chức các chương trình tập huấn, thông tin, truyền thông cho phụ nữ, đặc biệt là các bà nội trợ, chị em kinh doanh, sản xuất thực phẩm quy mô nhỏ lẻ.

15. Trung ương Hội Nông dân Việt nam

a) Chủ trì tổ chức hoạt động tập huấn, hướng dẫn cho các hội viên về sản xuất thực phẩm an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản khoa học, sử dụng đúng cách các hóa chất bảo vệ thực vật và án toàn thức ăn chăn nuôi, phân bón.

b) Chủ trì phát động phong trào sáng kiến, việc làm tốt về ATTP, tích cực đấu tranh với các hành vi mất ATTP trong cộng đồng, làng xã.

c) Phối hợp với các ban, ngành phổ biến, hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật tiên tiến bảo đảm ATTP trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, bảo quản thực phẩm.

16. Cơ chế triển khai, phối hợp.

- Ban chỉ đạo Liên ngành Trung ương về an toàn vệ sinh thưc phẩm, Ban chỉ đạo liên ngành các địa phương có trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai Chiến lược quốc gia bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020.

- Trên cơ sở mục tiêu và giải pháp chung, các Bộ ngành, đoàn thể xã hội căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng các kế hoạch triển khai cụ thể.

- Các địa phương có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện 6 tháng một lần về Bộ Y tế. Bộ Y tế tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến đệ và kết quả thực hiện. 

VI.   KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

1. Giai đoạn 1 (2011-2015): Triển khai các hoạt động trọng tâm nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, chú trọng công tác thông tin, giáo dục truyền thông, đào tạo cán bộ chuyên ngành cho mạng lưới triển khai từ trung ương xuống địa phương.

2. Giai đoạn 2 (2016-2020): Tiếp tục các hoạt động giai đoạn trước; tăng cường các hoạt động quản lý toàn diện theo chuỗi cung cấp thực phẩm, cải thiện tình trạng ATTP trong sản xuất kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, hoàn thiện hành các quy định luật pháp về ATTP.

Về đầu trang        
Cổng TTĐT Chính phủ Báo điện tử Chính phủ       Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tinLiên hệEnglish中文     
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Phạm Việt Dũng
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.